Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013

9 con đường Liên-Âu: Thâu cả châu về một mối

Lộ trình xuyên nước Pháp và Đức bằng đường xe lửa.  Bắt đầu từ thành phố Frankfurt > Amsterdam > Hannover > Paris > Marseille > Montpellier > Nimes > Paris > Munich > Stuttgart > Mannheim > Mainz > và kết thúc ở Frankfurt. (Nguồn: Bản đồ Planning Map of Europe của AAA)
Lộ trình xuyên nước Pháp và Đức bằng đường xe lửa.
Bắt đầu từ thành phố Frankfurt > Amsterdam > Hannover > Paris > Marseille > Montpellier > Nimes >
Paris > Munich > Stuttgart > Mannheim > Mainz > và kết thúc ở Frankfurt.
(Nguồn: Bản đồ Planning Map of Europe của AAA)
Ký Sự Tản Mạn Hè 2013 
HỒI MỘT:  THĂM NƯỚC PHÁP
Cá nhân tôi đã viếng thăm châu Âu bảy lần kể từ năm 1985. Mỗi lần chỉ đi xem có một thành phố. Hè năm nay (2013), Vĩnh Thanh Thảo và tôi làm một cuộc viễn du bằng xe lửa tốc hành, đi xe thường (TER) hoặc xe TGV chạy cực nhanh (vận tốc 320km/giờ, tiếng Pháp gọi là Trains à Grande Vitesse, viết tắt TGV), trong vòng 5 tuần lễ, xuyên qua hai xứ Pháp và Đức. Đây là hai quốc gia đầu đàn của Liên-hiệp châu Âu (hay Liên-Âu, European Union, EU). Chuyến đi tuy dài và hơi mệt mỏi vì chúng tôi ăn uống và ngủ nghỉ thất thường, nhưng được gặp gỡ, hàn huyên và trò chuyện cùng đồng bào người-gốc-Việt qua 10 thành phố; rồi lại được bằng hữu hướng dẫn đi thăm danh lam thắng cảnh ở các địa phương, nên chuyến đi này trở thành đầy thú vị và ý nghĩa.

Xe lửa TGV (320km/giờ)
Xe lửa TGV (320km/giờ)
Nền kinh tế thế giới đang hồi thở ra nên gây sự khó chịu cho nhiều cá nhân, gia đình và đất nước trên toàn cầu. Tăng trưởng là ‘hít vào’. Lạm phát cao và thất nghiệp nhiều là ‘thở ra’. Liên-Âu là một khối thị trường chung gồm 28 anh em quốc gia, đùm bọc nhau dưới một mái chợ. Chợ Liên-Âu này gồm có: vài xóm nhà ngói như Anh, Pháp, Đức, Thụy-sĩ, Bỉ, Hà-lan, Đan-mạch …; xóm nhà lá như Ý-đại-lợi, Bồ-đào-nha, Latvia, Malta, Estonia …; và xóm nhà cháy như Hy-lạp, Tây-ban-nha… Không những phải lo cho nội bộ không-đồng-đều của khối, chợ Liên-Âu (hay còn gọi là Chợ Tây, Tây là Tây-phương) còn phải chung vai đối phó với Chợ TàuChợ Mỹ trong bối cảnh tam-quốc-chí thời cao-kỹ (high technology) đang ganh đua tranh giành trong thế kỷ 21.
Chúng tôi đi thăm hai xứ hàng đầu của Liên-Âu: ĐứcPháp, để quan sát cùng học hỏi nghệ thuật lãnh đạo của nhà nước, cũng như thăm viếng dân tình thế thái của người-gốc-Việt trong hai xứ này. Pháp đã cố công thiết lập và Đức đang gắng sức bảo quản ngôi chợ Liên-Âu. Tính đến năm 2011: Pháp chứa khoảng 300 ngàn người Pháp-gốc-Việt (người Pháp-Việt); Đức chứa khoảng 150 ngàn người Đức-gốc-Việt (người Đức-Việt). Trên thế giới có 4 triệu người-gốc-Việt sinh sống ngoài VN. Bài ký sự này gồm hai hồi: Hồi Một viết về xứ Pháp và Hồi Hai về xứ Đức.

Vì đại nghĩa không màng danh lợi,
Luận anh hùng chớ kể dại khôn.
Văn minh xứ Pháp ta tôn
trọng: làm vừa đủ, chơi cho sướng đời!
Đi Pháp kỳ này, tôi quyết tâm xuống miền nam cho bằng được để thăm Marseille, tìm lại bóng dáng của một người bà con trong đại gia đình của bà tôi, mà tôi chưa có dịp thấy mặt. Bà Ngoại tôi hồi còn sống (1960) có kể lại cho con cháu nghe về cuộc đời của ông-cậu tôi (ông là em-bạn- dì của bà tôi). Đó là Ông Tám Xuân (Nguyễn Văn Xuân, 1904-1965). Vào đầu thập niên 1920, đúng lúc ông Tám tôi 19 tuổi, đô con, rất khỏe nhưng ít học, được lính Tây ở Chợ Đệm mộ sang Pháp làm lính chiến vì lúc bấy giờ mẫu quốc Pháp đang thiếu quân binh phục vụ cho các chiến trường thuộc địa.
Sau thế chiến thứ hai, từ Marseille ông Tám viết thơ về thăm mẹ (bà-cố-ngoại tôi), cho biết là ông đã lấy vợ đầm và định cư ở lại Marseille vì được chính phủ Pháp thưởng công chiến trận trong quân đội viễn chinh của Pháp (1948). Ông Tám làm lính lê-dương bên châu Phi (Africain légionnaire) nên chính phủ Pháp tưởng thưởng cho vào quốc tịch. Theo lời bà cố tôi thì ông Tám muốn về thăm mẹ già ở quê hương ViệtNam lắm, nhưng lúc bấy giờ bà cố tôi rất giận ông Tám vì ông ham chơi không chịu học hành và ngỗ nghịch hồi còn nhỏ; lớn lên, lại đi làm chiến binh cho Tây, rồi theo mácxít, còn lấy thêm vợ đầm, nên bà cố bảo ông Tám: “Mầy mê Tây và cộng sản, đừng có về gặp tao!”
Bà ngoại tôi còn cho biết là ông Tám đau khổ lắm vì không có con với bà đầm, lại thêm bịnh hoạn vì thương tích chinh chiến bên châu Phi, và nhất là bà cố tôi giận không muốn cho nhìn mặt. Có một chi tiết nhỏ mà tôi vẫn còn nhớ rõ ràng là, ông ngoại tôi nói cho mẹ tôi biết là ông Tám Xuân đi theo cộng sản đệ-tứ thuộc nhóm ông Tạ Thu Thâu, vì ông Tám có viết thư chiêu dụ ông ngoại tôi khoảng đầu năm 1950.
Nhưng ông ngoại tôi không chịu nghe theo lời ông Tám vì khi còn thanh niên, ông ngoại tôi đã đi theo đường hướng của cụ Phan Châu Trinh rồi. Nhóm Tạ Thu Thâu cũng đấu tranh giành độc lập cho ViệtNam, nhưng bị phe cộng sản đệ-tam của Hồ Chí Minh theo Stalin tiêu diệt nhóm đệ-tứ chết ráo. Hai mươi năm sau thế chiến thứ hai, ông Tám Xuân chết bịnh ở Marseille vào năm 1965, thọ được 62 tuổi.
Tôi thương tiếc cho số phận của Ông Tám Xuân. Sinh-bất-phùng-thời (được sinh ra trong một thời kỳ đen tối). Tôi muốn đi thăm bến tàu Marseille, hải cảng đã nhận hàng chục ngàn con dân ViệtNam qua Pháp làm chiến binhcông binh. Cũng tại Marseille, bến tàu đã đưa chiến binh ViệtNam trong đạo quân viễn chinh Pháp qua châu Phi cai trị dân Sénégal, Madagascar, Algéri, Marocco … Cũng tại cảng Marseille này, nhiều lính Pháp-gốc-Việt trở thành công dân Pháp sau chiến tranh, ở lại Pháp, lập gia đình với người địa phương và xây dựng nghề nghiệp tại đây, miền nam nước Pháp. Và tôi muốn đi thăm bến tàu Marseille vì nó cũng là bến tàu lịch sử gắn bó cuộc đời của ông-cậu tôi.
  1. Đến Bến Tàu MARSEILLE
Tưởng tượng lại hình bóng của Ông Tám Xuân trong đầu tôi vẫn không thắng nổi cơn đói trong bụng vào một buổi sáng đẹp trời của Marseille, nên tôi phải kiếm cái gì lót dạ trước đã. Tôi rất thích bánh mì baguette của Pháp, loại vỏ thiệt cứng bên ngoài, gõ u đầu; nhưng bên trong ruột thì mềm và dai, và toàn thân bánh phải còn nóng hổi.
Tôi vội vọt xuống đường, chạy ra một tiệm boulangerie (tiệm chuyên môn làm bánh mì) ở đầu phố cách khách sạn chừng 200 mét, vớt về hai ổ bánh mì còn thiệt nóng, mới ra lò. Ổ thường: ốm và dài, giá 80 xu. Ổ mập hơn, hai đầu vót nhọn rất cứng, loại mà tôi thích nhất, giá 85 xu đắt hơn ổ thường 5 xu vì nướng lâu hơn và công vót nhọn hai đầu. Thêm (beurre), vài miếng thịt nguội, một cái trứng ốp-la, một tách cà-phê, và không quên nước tương maggi, thế là tôi đã có một buổi ăn sáng sang trọng nhất thế giới!        
Tây ăn bánh mìnước tương y như Ta ăn cơmnước mắm. Maggi là tên hiệu nước tương nổi tiếng của Chợ Tây Liên-Âu, gốc từ xứ Thụy-sĩ, và các nước Pháp, Đức, Hà-lan đều có hãng chế biến riêng của mỗi xứ. Nhưng theo khẩu vị chủ quan của tôi thì maggi làm tại Pháp là ngon hơn hết. Maggi Hà-lan có loại hơi cay cay, nhãn hiệu viết thêm chữ ‘hot’, chứa trong chai thiệt nhỏ với giá chưa tới 1 Euro, dùng để nêm vào trứng gà ốp-la thì ô-là-la, hít hà, ngon tuyệt cú mèo!
No bụng rồi, tôi bèn lấy xe điện (tramway) ra thăm hải cảng Marseille … Ngày xưa, dân ngoại đi tàu vào xứ Pháp đầu tiên phải dừng lại một bến hải quan nhỏ (ancient port de quarantaine) trên đảo Ile Pomègues thuộc quần đảo Frioul (Archipel du Frioul) để kiểm dịch, trước khi cho lên bờ
Ngày nay thì các đảo này trở thành địa điểm du ngoạn, cách bờ độ nửa tiếng, ta phải mua vé mới có thể ra thăm viếng lâu đài tù Château d’If , xây năm 1524.
Tượng đài tử sĩ Porte de L’Orient – Cổng Phương Đông
Tượng đài tử sĩ Porte de L’Orient – Cổng Phương Đông
Theo đường chim bay từ Château d’If ngoài đảo thẳng vào trong bờ, thành phố Marseille cho dựng cổng đài kỷ niệm tử sĩ của các đạo quân lê-dương Pháp chết trận ở châu Á và châu Phi (Porte de L’Orient). Cổng đài nằm kế bên đại lộ Corniche Président Kennedy (CPK), nhắm thẳng ra biển khơi, xung quanh có nhiều nhà nghỉ mát cho khách du lịch ngắm cảnh. Con đường CPK chạy quanh co uốn khúc dọc theo bờ biển, đi ngang qua vài bãi tắm, thật là hữu tình!
Porte de L’Orient, nếu hiện hữu vào 100 năm trước, khi đế quốc Pháp còn đang là một mẫu quốc nhất nhì trên thế giới, cổng thường phải chứng kiến cảnh ly biệt, chia tay của những chàng thanh niên Pháp với ước mộng giang hồ, hoặc phải theo chính sách xâm lăng của Bộ Thuộc Địa lên đường chinh chiến từ cảng Marseille. Ngược lại, từ chiến trường bên trời Á-Đông và Bắc-Phi, đâu đó vang lên giọng giã từ của bà mẹ tiễn đưa con về chốn vô định:
Tàu súp-phờ-lê một, còn than còn thở
Tàu súp-phờ-lê hai, còn đợi còn chờ
Tàu súp-phờ-lê ba, tàu ra cửa bắc
Má nhớ thương con mà nước mắt
với mủi dãi chảy ròng ròng!
(Câu hò bình dân Nam bộ, khuyết danh, tả cảnh người mẹ nhớ thương con khi tàu Pháp chở con đi lính hoặc đi làm công từ bến SàiGòn qua bến Marseille. Hành trình này thường mất cả tháng trời). [Ghi chú: súp-phờ-lê = souffler (tiếng Pháp) = thổi, hú còi. Tàu chở khách hú còi làm hiệu ở các bến tàu khi tàu rời bến hoặc cặp bến. Tàu thường làm hiệu đến 3 lần].
Marseille là một thành phố cổ, lâu đời nhất trên đất Pháp. Cách nay 2600 năm, xứ Hy-lạp (Greece) và sau đó là xứ La-mã (Roman Empire) đã thay phiên nhau cai trị vùng đất này, cho đến năm 600 thì Marseille mới được độc lập, biến thành tỉnh lỵ của xứ Pháp. Vì địa điểm rất tốt của Marseille với khí
hậu nắng ấm ôn hòa, lại thuận lợi trong việc giao thông cho các vùng đất bao quanh bờ biển Địa-trung-hải (Mediterranean Sea), nên hải cảng Marseille trở nên sầm uất trong việc thương mại và giao dịch giữa Pháp đối với các quốc gia thuộc miền trung và nam của châu Âu.
Hiện nay, Marseille là thành phố lớn thứ nhì, chỉ đứng sau kinh đô Paris của nước Pháp, với dân số gần 1,6 triệu người. Dân Pháp-gốc-Việt sinh sống tại Marseille và các vùng phụ cận có khoảng trên dưới 30 ngàn người (chiếm 10% tổng số người Việt trên đất Pháp). Họ gồm nhiều thành phần khác nhau, dựa vào thời điểm di dân của từng thời kỳ đặc biệt trong lịch sử ViệtNam.
Trong thời thế chiến thứ hai, Đức chiếm toàn xứ Pháp và dội bom phá nát thành phố Marseille (1942) vì đây là cứ điểm chiến lược quan trọng của Pháp. Thành phố bị thiệt hại nặng, nhưng có một ngôi nhà thờ Đức Bà (Notre Dame, dùng để chỉ Đức Mẹ Maria) được cất trên cao điểm, may mắn lại không bị hề hấn gì cả. Có lẽ quân Pháp lúc bấy giờ quá yếu, không đặt súng cao xạ phòng không tại cao điểm nhà thờ Notre Dame, nên phi cơ Đức không dội bom tại đây.
lo trinh duc phap 5Ngày 25 tháng 8 năm 1944, Marseille được phe Đồng-minh giải phóng, dân địa phương thêm vào tên ‘de la garde’ cho nhà thờ, có nghĩa là ‘quan phòng’ (trông chừng bảo vệ). Tên nhà thờ đổi thành Notre-Dame De La Garde. Trên đỉnh cao chót vót của nhà thờ, giáo dân đặt tượng Đức Mẹ (Bonne Mère) bằng đồng trát vàng để thờ phụng (xem tượng mẫu).
Để có một tầm nhìn tổng quan trên thành phố, anh bạn Rolland lái xe đưa chúng tôi lên thăm nhà thờ Đức Bà, cao điểm nhất của thành phố để nhìn xuống toàn khu thị dân.
Thấy từ trên cao rồi, bây giờ chúng ta có thể hạ sơn (xuống núi) để: xem xe cộ, coi phố xá, thăm nhà ga và bến tàu, thử hàng quán, dạo chợ trời, và lội-bộ-xem-bông (thay vì cưỡi-ngựa-xem-hoa) trong thành phố Marseille. Nếu không đi xe hơi riêng, thì có nhiều cách để hạ sơn: mướn xe đạp, xe gắn máy; đi xe điện nổi (tram), xe điện ngầm (métro) hoặc xe buýt; hoặc xử dụng lô-ca-chân!
Kinh tế Marseille đang hồi thở ra, giá cả mắc mỏ, thất nghiệp trên 10%, thành phố chỉ sống nhờ vào kỹ nghệ du lịch. Năm nay, hè 2013, thành phố Marseille quảng cáo là đã được châu Âu bình chọn làm Marseille-Provence, European Capital of Culture 2013 (www.marseille-provence2013.fr) theo tài liệu Marseille – City Centre Map and Guide của Sở du lịch Marseille; nên cả thành phố tưng bừng sửa soạn lễ hội, triển lãm, văn nghệ và ăn nhậu suốt cả hai tuần cuối tháng 6. European Capital of Culture có nghĩa là ‘Thủ đô văn hóa của châu Âu’. Ít tiền thì ít, mà chơi thì cứ chơi! Miễn sao dân tình cảm thấy vui sống.
Marseille là thủ đô văn hóa của châu Âu? Khoan đã! Có thật như vậy không?
Theo tôi, có có không không! Có là có trên quảng cáo thương mại, có cho thêm khách du lịch, đem lợi tức vào cho thành phố. Còn không là không thể đại diện cho toàn bộ châu Âu; sinh hoạt văn hóa của Anh, của Đức, của Ý, và của … trong Âu châu bỏ đi đâu? Theo tôi thì: thủ đô văn hóa phải mang nhiều bộ mặt, chớ không thể chỉ có một mặt Marseille, mặc dù đây là vùng đất cổ, có từ thời Hy-lạp. Năm 2013 là thủ đô văn hóa Marseille, năm tới có thể chuyển sang thành phố khác, của xứ khác trong Liên-Âu. Như vậy thì mới OK!
Từ khách sạn, hai chúng tôi lấy xe điện tramway T-1 xuống ga Noailles, rồi dùng lô-ca-chân đi dọc theo đại lộ La Canebière xuống thẳng bến tàu (Quai de Rive Neuve) để thăm tình hình. Trời nắng nóng nhưng có gió biển thổi vào mát rượi. Dân Tây khoái nghỉ hè Marseille là vì vậy!
Dạo một vòng chung quanh khu bến tàu (Quai du Port – Vieux Port)
Dạo một vòng chung quanh khu bến tàu (Quai du Port – Vieux Port)
Ngày thường mà du khách vẫn tấp nập, khách ngồi ăn trong tiệm thì vắng mà đứng/đi ăn ngoài đường thì đông. Các tòa nhà thuộc thế kỷ 20 vẫn sừng sững trơ gan cùng tuế nguyệt, tuy nhiều bức tường đã xám xịt vì khói xe hơi bám dính. Ngay bến tàu, một vài ngư phủ đang chuẩn bị lưới-và-chì để ban chiều sẽ ra khơi. Họ đánh bắt qua đêm ngoài khu quần đảo Frioul, và sáng sớm trở vào bờ để bán hải sản cho ông-đi-qua-bà-đi-lại bên đường. Kiểu buôn bán này rất hấp dẫn cho du khách như xem show trình diễn. Nhà nước có chương trình tài trợ cho các ngư dân để hấp dẫn cảnh quan du lịch. Sinh hoạt văn hóa và kinh tế trở thành bạn đồng hành tại cảng.
Lê la một vòng bến tàu dài chừng 5 km, mất 2 tiếng đồng hồ là tạm xem gần hết quang cảnh. Cảm thấy kiến cắn bụng và nghe theo lời dặn của anh Rolland, chúng tôi bước ngược trở lại ga Noailles để chọn lựa buổi ăn trưa, vì gần đó có khu chợ trời của người Pháp-Hồi (dân Pháp-gốc-đạo-Hồi) rất sầm uất và giá cả ẩm thực bình dân hơn khu du lịch bến tàu. Ở đây cũng có cả dân Việt mình làm ăn, buôn bán. Tính ăn uống xong rồi, chúng tôi sẽ lội bộ ra bến tàu lần nữa!
Dạo chợ trời Noailles
Đa số người Pháp-Hồi là dân gốc châu Phi, giống dân da đen và theo đạo Hồi (nhất là vùng Bắc- Phi). Thế kỷ trước, họ cũng như ta, bị đế quốc Pháp bắt/tuyển đi làm công binh hay chiến binh; cũng có một số trí thức đi du học; sau đó họ ở lại Pháp và trở thành công dân Pháp. Họ sang Pháp nhiều hơn chúng ta vì ở gần nước Pháp hơn và thuộc nhiều sắc dân khác nhau như: Algérie, Maroc, Tunisie, Madagascar, Sénégal … Ngày nay, người Pháp-Hồi (Pháp-đen) hay Pháp-Việt (Pháp-vàng) đều thuộc dân thiểu số của nước Pháp. Họ có quyền lợi và bổn phận giống y như của một công dân như người Pháp-trắng, trên cơ sở pháp lý.
Nhưng trên thực tế xã hội, vì căn bản giáo dục và nền tảng kinh tế của hầu hết dân thiểu số còn yếu thấp hơn dân Pháp-trắng nên gánh nặng xã hội (social burden) lúc nào cũng chồng chất lên ngân sách của nhà nước cầm quyền, tạo thành những vấn nạn kỳ thị sắc tộc một cách biểu kiến. Biểu kiến có nghĩa là hiện ra thấy được bên ngoài, nhưng không phải là vấn đề bản chất.
Vài người bạn của tôi không đồng ý về quan niệm xã hội này. Họ cho kỳ thị là sách lược của chính phủ tây phương da trắng và là vấn đề bản chất. Tôi suy nghĩ khác với các bạn đó. Tôi nói về , còn họ nói về thuật. Sách lược vẫn có thể được thay đổi theo khung thời gian bởi tùy thuộc vào dân trí và khả năng lãnh đạo của nhà nước. Nhưng trên các trang giấy này, không phải là chỗ biện luận của tôi về sự kỳ thị sắc tộc của nước Pháp.
Chưa hết! Còn vấn đề tôn giáo và lịch sử nữa: giữa Hồi-giáoThiên-chúa-giáo! Dân da trắng đa số theo đạo Thiên-chúa, còn dân Bắc-Phi đa số theo đạo Hồi. Cuộc thánh chiến đã dai dẳng cả ngàn năm qua trong quá khứ, kéo dài cho đến ngày hôm nay và tràn lan khắp toàn cầu, mặc dầu cả hai đạo đều cùng chung một gốc. Bạn nào có rảnh, hãy tìm xem phim Kingdom of Heaven (Thiên Triều, 2005) kể lại các cuộc ‘thập-tự chinh’ (The Crusades) để biết thêm về thảm cảnh giữa hai tôn giáo này. Liên-Hiệp-Quốc (LHQ) đang có các ủy ban hòa giải tôn giáo để giúp cho thiên hạ sống thanh bình hơn. Tôi lúc nào cũng hy vọng vào nỗ lực của LHQ: dùng đối thoạilòng nhân từ. Loài người chúng ta có sự lựa chọn nào khác hơn phương cách của LHQ không?
Tự nhiên tôi chợt nhớ đến dân tộc Chăm thuộc xứ Champa xa xưa của miền trung ViệtNam. Xin lỗi bạn đọc nha! Cho phép tôi miên man chút đỉnh về đạo Hồi, vì nó có liên hệ bắn-súng-cà-nông-không-tới với cuộc đời của tôi. Cậu của ông ngoại tôi, mẹ tôi dạy gọi bằng ông-cố-cậu (hoặc ngắn hơn là Ông Cố). Ông cố tôi (18 tuổi) người tỉnh Thái Bình, dắt ông ngoại tôi (6 tuổi, đã mất hết bố mẹ ngoài Bắc) vào Nam định cư tại tỉnh Phan Rang thuộc miền Trung hồi đầu thế kỷ 20. Ông cố tôi lớn lên làm thầy thuốc Nam, rất giỏi về nho-học, và lấy bà vợ người Chăm trẻ đẹp, tôi gọi bằng Bà Cố. Bà Cố (1900-1960) rất hiền hậu, dễ thương và ca múa điệu Chăm hay lắm! Ông bà cố không sinh được mụn con nào.
Tôi nhớ mãi trong ký ức: hồi tôi 11 tuổi (1959), Bà Cố dẫn tôi đi thăm Tháp Chàm rồi diễn giải cho tôi biết rằng, dân Chăm tổng hợp cả 3 đạo: đạo Phật, đạo Ấnđạo Hồi lại làm một, và xứ Champa đã sống hòa bình qua nhiều thế kỷ. Ông Cố tôi dạy chúng tôi rằng, dân Đại-Việt mình cũng rất hay vì đã tổng hợp được cả 3 đạo: đạo Phật, đạo Khổngđạo Lão, không thua gì khả năng tổng hợp tôn giáo của dân Chăm. Phải chi LHQ nghiên cứu thêm về diễn trình tam-giáo-đồng-nguyên của Champa (Phật-Ấn-Hồi) và Đại-Việt (Khổng-Phật-Lão) thì hay biết mấy!
Ông Cố (1890-1970) và ông Ngoại (1902-1978) tôi là người theo đạo Thiên-chúa, nhưng sau đó, ông ngoại tôi bị rút phép thông công vì đánh ông trùm xóm đạo. Lý do: ông tôi theo phong trào tân dân (hoặc duy tân) của cụ Phan Châu Trinh, ổng cầm đầu một nhóm bạn trẻ trong xóm, hễ thấy đàn ông con trai còn để tóc dài, búi tó củ nừng, thì đè xuống và dùng kéo cắt đi. ‘Tân dân’ là làm cho dân mới ra! Và hớt tóc ngắn là hành động của nhóm trẻ tân dân. Rủi cho ông tôi là đè nhằm ông trùm mà cắt. Lại còn cả gan cãi lại lời thầy cả (linh mục), nên phải bị đuổi đi.
Ông Ngoại tôi bỏ miền Trung, một mình đi vô miền Nam. May quá! gặp bà tôi (1904-1986) ở vùng Chợ Đệm, gần SàiGòn. Xa xóm đạo mà gần được đào. Mẹ tôi được sinh ra (1927) và lớn lên tại Hóc-Môn (18 Thôn Vườn Trầu) với tên thánh theo Chúa là Ana. Và khi mẹ tôi mất đi (2005) tại thành phố Portland, bang Oregon – Mỹ quốc, thì có pháp danh quy-y theo Phật là Diệu Hương. Bà có tới hai cái bảo hiểm. Chuyện còn dài lắm, kể hoài không dứt …
Trở lại vụ ông Ngoại tôi bị buộc phải rời đạo và bỏ xóm đạo. Ông thuận đường xuôi nam vào tận SàiGòn (1922) để sinh sống! Ông làm nghề lính cha lửa (đội viên cứu hỏa, pompier, fireman) từ thời Pháp thuộc, làm qua đến thời ViệtNam được độc lập (1954), và nghỉ hưu dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm (1962). Ông rất can đảm trong nghề chữa cháy vì không sợ lửa. Bằng chứng là bà tôi còn giữ các giấy ban khen của cơ quan cấp trên tặng thưởng cho ông.
Nhưng tôi thán phục sở thích và nghề tay trái của ông Ngoại. Đó là nghiên cứu và đoán số tử vi về thế sự và thời cuộc: nào là cộng-hòa, cộng-sản; rồi đệ-tam, đệ-tứ; đủ thứ trên đời. Sau năm 1975, dưới thời cộng sản nắm quyền, ông Ngoại tôi sinh buồn phiền và lâm trọng bệnh khi gia đình mẹ tôi bị đổi tiền, và vì thuộc giai cấp tư sản nên bị đánh (1978), còn các cậu tôi thì bị bắt đi tù vì làm lính hải quân của ViệtNam Cộng-hoà (VNCH). Ông mất cuối năm 1978 tại SàiGòn.
Trong đời, ông Ngoại tôi tâm đắc với Ông Bảy Trấn (Nguyễn Văn Trấn, 1914-1998), một người em-bạn-dì khác của bà Ngoại tôi. (Bà tôi là con Bà Cố Tư, ông Bảy Trấn là con Bà Cố Năm, còn ông Tám Xuân là con Bà Cố Sáu. Ngoại-tổ của tôi có tới 5 người con gái). Ông Bảy Trấn đi theo đệ-tam cộng sản, được huấn luyện bên Nga. Bà Ngoại và các cậu tôi không ưa ông Bảy, cho rằng ổng dữ dằn. Chỉ có ông Ngoại tôi là thông cảm hoàn cảnh và nói chuyện đời được với ông Bảy. Ông Ngoại tôi dặn con cháu rằng: sông-có-khúc-người-có-lúc; có lúc rồi ông Bảy sẽ hồi tâm!
Ông Bảy Trấn hồi trẻ là người vô thần, trước khi mất thì rửa tội đi theo Thiên-chúa giáo. Về lại SàiGòn năm 1975, ông Bảy Trấn bất đồng chính kiến với chính sách nhà nước. Và ông rất hối hận. Hối hận chỉ vì lòng yêu nước muốn đánh giặc Tây mà đi lầm đường theo cộng sản đệ-tam. Ổng chê là Hồ Chí Minh không có đầu óc và tư tưởng gì ráo, chỉ biết tranh giành quyền lực; đấu thì rất hay, còn xây thì dở ẹt! Ông Bảy chết trong cô đơn, thọ 85 tuổi (1998). Còn hai cậu em của mẹ tôi là Cậu Ba (thương phế binh VNCH) và Cậu Sáu, sau này vượt biển tỵ nạn cộng sản sang Mỹ (1980 &1983) đã trở thành hai nhà sư Phật giáo. Hai cậu tôi luôn cầu nguyện cho ông Tám Xuân, ông Bảy Trấn và linh hồn tử sĩ được siêu thoát nơi miền cực lạc.
Viết lại những giòng chữ này, tôi không thể cầm được nước mắt khi ôn lại cuộc đời của ông bà,  cha mẹ và giòng họ thân thương của mình bị vướng mắc trong vòng nghiệt ngã giữa cộng-hòa và  cộng-sản. Hai sản phẩm của người ngoài, khiến anh em một nhà phải nồi-da-xáo-thịt!
Ngày hôm nay, tôi kính trọng và yêu thương dân Bắc-kỳ, Trung-kỳ, Nam-kỳ và cả Hoa-kỳ trên đầu và trong tim của mình. Xin tạm chấm dứt chuyện dài tôn giáo, chuyện Nam-Bắc-Trung, chuyện chính trị cộng-hòa và cộng-sản, và về cuộc đời các tiền nhân của tôi. Khi nào thuận tiện và có duyên thì tôi sẽ thuật tiếp.
Cám ơn bạn đọc đã cho phép tôi đi lạc đề trong vài ba trang vừa qua!
lo trinh duc phap 8 
Trở lại chuyện dân Pháp-Hồi ở Marseille. [Hàng quán chợ trời có] thịt cá, rau cải và trái cây, tươi tốt ê hề. Tuy chật hẹp và bề bộn nhưng thực phẩm được chế biến tại chỗ, chúng tôi tha hồ lựa chọn món mình thích, mua rồi đem vô tiệm ngồi ăn ngon lành và thoải mái. Tôi thích trái và dầu olive, được ướp đủ loại theo kiểu Á-rập; lại thêm trái chà-là (date) còn tươi, dính chùm từ Algérie gửi qua, mùi vị thơm phức và ngọt lịm. Cắn một cái, khoái tới già. Ngon hết ý luôn!
Rất tiếc là trong tiệm không có nước đá cho thức uống, nên khách Mỹ-Việt như Vĩnh Thanh Thảo phải chịu khô héo trong vài ba giây, lại nghe không hiểu tiếng Á-rập của bà chủ quán nên phải ú ớ trong dăm ba phút. Nhưng chúng tôi trả đúng tiền, không trả giá, khiến người sản xuất được hài lòng mà kẻ tiêu thụ cũng thong dong! Ngồi trong tiệm ăn, ngó ra bên ngoài, tôi không cảm thấy vui mắt cho mấy!
Bên này: áo quần, mùng màn treo phơi nắng lổn ngổn trên tường của khu chung cư (giống như khu bình dân phơi quần áo bên HồngKông). Bên kia: vài ba bà hành khất bế con chờ sự bố thí của khách qua đường (isolated incidents, trường hợp đơn lẻ). Xin các bạn Pháp-Việt quý mến của tôi khoan vội nổi nóng về hình ảnh của những người kém may mắn. Vì bên thành phố San José – Cali, chỗ tôi ở, có cả xóm homeless (vô gia cư), sống nhờ ăn xin. Xứ nào cũng có ăn mày. Không riêng gì ở Marseille, hay ở đâu khác!
Ăn uống ở chợ Pháp-Hồi xong, chúng tôi lội bộ ra bến tàu một lần nữa để xem cho hết quang cảnh cảng Marseille. Ngoài bến tàu, một số thiên hạ ung dung đua nhau đi chơi. Chỉ cách vài ba khúc đường, vài người kém may vẫy vùng tìm chỗ sống. Hai cảnh đời lộn ngược. Giống như bức ảnh tôi chụp được do sự phản ảnh của tấm kính được dùng làm trần nhà của công viên để dân chúng tụ tập vui chơi, ngay kế bên cạnh bến tàu.
Thiên hạ ung dung đua nhau đi chơi ngoài bến tàu, nhưng là đi bộ ngắm cảnh, không ai chịu trả tiền ngồi xe đạp, và rất ít khách ghé vào tiệm mua hàng hay tặng phẩm. Tôi để ý đến một bảng quảng cáo dựng trước cửa một tiệm bán dầu thơm (mỹ phẩm). Bảng viết bằng tiếng Pháp, có phụ đề Anh-ngữ, nhắm vào du khách không-nói-tiếng-Pháp: Parfum – Prices melt like snow in the sun !!
Xin bạn đọc tra tự điển dùm.
Đúng là kinh tế du lịch của Marseille cũng đang trong thời kỳ xuống dốc ngay trong thời kỳ thiên hạ đi nghỉ hè. Mua xài, mua sắm, mua khoe; trong ba thứ mua ấy, chúng tôi chỉ mua xài! Trời ít mây, hơi nóng, nắng không gắt, gió biển thổi man mát, đi bộ dọc đường Quai du Port thật lý tưởng cho những người đang thiếu vitamin D3 như tôi.
Tượng của Dalí trên lộ Quai du Port và nhà thờ Cathédrale de La Major
Tượng của Dalí trên lộ Quai du Port và nhà thờ Cathédrale de La Major
Sừng sững giữa đường là một bức tượng đá khoả thân của bà đầm. Bả cụt đầu, cụt tay và cụt chân với chữ Dalí trên khối bệ, chắc ‘Dalí’ là tên của Salvador Dalí (1904-1989), điêu khắc gia nổi tiếng khắp châu Âu. Lại có tượng hai con kiến làm bằng đồng, bò trên bụng bà đầm, hướng tới một trái banh bầu dục cũng làm bằng đồng, màu vàng đục. Trái banh bầu được đặt ngay trước rốn bà đầm. Tôi chịu thua, không hiểu gì hết!
Lạ thì có lạ, hay thì chưa chắc đã hay, vì tùy ở độ nhìn chủ quan của khán giả đánh giá. Ai muốn hiểu sao thì hiểu. Nhiều khi giá trị của tác phẩm ở chỗ: không ai hiểu gì cả! Đôi khi hỏi ý tác giả, tác giả trả lời: tao còn không biết, huống chi gì mầy! (tạm dịch hai chữ moitoi, thân mật trong tiếng Pháp, thành ra tao mầy trong tiếng Việt).
Xa xa là đôi nóc vòm của nhà thờ Cathédrale de La Major nổi tiếng ở Marseille. Cặp giò của chúng tôi đã bắt đầu than phiền, nhưng cũng ráng lết đến nhà thờ này để xem và học hỏi cho biết, vì nhà thờ Cathédral de La Major (1852) được xây trước cả nhà thờ Notre-Dame de La Garde (1864).
Sức mạnh của đế quốc Pháp vào những thế kỷ trước là dựa trên lực lượng súng đạn của đạo quân viễn chinh, nhưng đây là sức mạnh cứng (cương-lực). Còn sức mạnh mềm (nhu-lực) là văn chương nghệ thuật, là niềm tin tôn giáo với những nhà thờ kính cẩn và trang nghiêm.
Marseille là chứng nhân của thời đại. Ngàn năm trước, Marseille là hình ảnh cho sự xâm lăng của đế quốc Hy-lạp và La-mã. Ngàn năm sau, Marseille là phản ảnh của đế quốc Pháp đi xâm lăng phương Đông (Hình 11). Rồi đế quốc La-mã đã đi về đâu? Không còn hiện hữu nữa. Diệt người khác cũng là tự diệt chính mình!
Rồi đế quốc Hy-lạp đang đi về đâu? Rầu lắm! Hiện Hy-lạp rất khốn đốn về kinh tế. Ngày xưa là đế quốc, còn ngày nay thì đi ăn chực. Ngân hàng trung ương Liên-Âu phải châm tiền vào giúp nhà nước Hy-lạp để cứu nguy cho xã hội. Lực sản xuất của thị trường thì ít, mà mức tiêu thụ của nhà nước thì quá nhiều, tiền đâu mà đài thọ cho đầy? Giới thợ thuyền thì tiêu điều, còn giới công chức thì phì nhiêu, của đâu mà cung ứng cho đủ?
Tượng Colonies d’Asie. Đài thuộc địa Châu Á
Tượng Colonies d’Asie. Đài thuộc địa Châu Á
Đức và Pháp phải chịu đựng thêm nhiều lắm! Vài anh thầy rùa kinh tế của Mỹ, bênh vực Chợ Mỹ, dùng phép phân tích lợi-hại (cost-and-benefit analysis) về hiện tượng kinh tế toàn cầu, rồi thúc dục Hy-lạp rút chân ra khỏi Liên-Âu để xé lẻ, gây chia rẽ phá Chợ Tây. Pháp và Đức còn lâu mới trúng kế độc của Mỹ. Đối với Hy-lạp, Liên-Âu (đứng đầu là Đức và Pháp) phải vừa-giúp-vừa-dạyvừa-dụng-vừa-dưỡng thì mới được.
Và với lòng quảng đại lo cho việc chung, rồi nền kinh tế Pháp sẽ đi về đâu? Hãy đợi đến khi qua thăm xứ Đức ở Hồi Hai thì sẽ rõ.
Ngồi nghỉ trong nhà thờ Cathédrale de La Major, tôi nhắm mắt cầu nguyện cho Ông Tám Xuân, cho Ông Bảy Trấn; cho bà con Marseille của mình (công binh, chiến binh Việt trong thế kỷ 20 và dân Pháp-Việt trong thế kỷ 21); cho nhân dân nước Hy-lạp, nước Pháp và nước Đức; và cho đồng bào ViệtNam tại quê nhà được thiên hạ thái bình. Đâu đâu cũng sống an lành. Chúng ta không sửa đổi được quá khứ, nhưng có thể dự định cho tương lai, nếu thông được bài học của lịch sử.
Một ngày dài đáng ghi nhớ tại cổ cảng Marseille đã trôi qua. Chúng tôi chuẩn bị đi đến thành phố Montpellier để thăm một người bạn Pháp-Việt khác.

2.  Ghé Thăm Bạn Hiền Tại MONTPELLIER
Chúng tôi lấy xe lửa thường TER của SNCF từ Marseille đi Montpellier, cách 150 km, mất một tiếng rưỡi đồng hồ và tốn 29.5 Euro đôla (1 Euro đô = 1.32 USA đô) cho một bận đi. Montpellier hiện hữu từ năm 985, hiện nay là thành phố lớn thứ 8 của Pháp và có hơn ¼ triệu dân. Montpellier nổi tiếng vì có trường y khoa lâu đời nhất châu Âu, được xây dựng từ thế kỷ thứ 13.
Sau thế chiến thứ hai (sau 1945) con cháu của người Việt sinh sống ở miền nam nước Pháp học lên cao, rồi các đợt du học của sinh viên miền nam ViệtNam dưới thời VNCH [Đệ-nhất (1954) và Đệ-nhị (1963) cộng-hòa] tiếp tục theo trường Y Khoa Montpellier (Faculté de Médecine), tạo nên một số y sĩ người Việt tốt nghiệp ở đây. Anh Nguyễn Thành Khương đã tốt nghiệp y sĩ vào đầu thập niên 1970 ở trường này, nay đã về hưu. Năm trước, chúng tôi hân hạnh được quen biết với anh Khương, được anh mời đến thăm quê hương thứ hai của anh, và được anh làm thổ địa hướng dẫn đi thăm phong cảnh vùng này.
lo 1Trước hết, anh Khương muốn giới thiệu cho chúng tôi biết ngôi trường y khoa mà ảnh đã trải qua và làm việc cả chục năm trời trong bệnh viện, nằm trên Boulevard Henri IV. Chúng tôi dùng xe trem (tramway) tới khuôn viên đại học, rồi đi bộ vô trường. Kiến trúc cổng nhà thương (Hopital Général) rất cổ kính, chắc cũng cả trăm năm. Nó nằm đối diện với những dãy học khu cao ba, bốn tầng lầu. Hai bên đường đầy cây xanh cho nhiều bóng mát. Xe hơi đậu chật nứt mà không thấy bóng dáng con người. Chắc là thầy và trò đang gò bài trong lớp. Đi hết cuối đường là đến khu nội trú của sinh viên. Băng qua đường là một vườn bông đầy thơ mộng.
Tên của vườn bông này là Jardin des plantes de Montpellier và nó được thiết lập từ năm 1593 kể từ đời vua Henry IV. Vườn này còn xưa hơn cả vườn bông của Paris (1626) và hiện do phân khoa thảo-học (botany) của L’Université Montpellier I điều hành. Dưới gốc một cây to sát cạnh lề đường là một xe bán phó-mát (fromage) và thịt nguội, còn xe kế bên thì bán toàn rau cải tươi, theo kiểu chợ trời. Tôi không thấy nhà hàng chung quanh học khu này. Chắc là học trò nghèo
thích loại quán cốc lưu động như vầy. Hồi xưa tôi đi học cũng sống như vậy. Ít khi đi ra quán ăn,
ngoại trừ muốn làm le với đào! Có sao nói vậy, người ơi!
Hết khu đại học, chúng tôi lội bộ tiếp sang công viên Place Royale du Peyrou, kế bên trường y khoa, không xa cho lắm! Place Peyrou được xây dựng hồi thế kỷ 17 từ trên địa điểm cao. Đứng trên cao điểm của công viên, ta có thể nhìn xa cả một phần của thành phố chung quanh. Ở hướng đông của Place Peyrou là khải hoàn môn Arc de Triomphe, chỉ cách nhau bởi con đường Boulevard du L.Vialleton.
Arc de Triomphe (1691)
Arc de Triomphe (1691)
Ở giữa công viên Peyrou có tượng của vua Louis XIV (1638-1715) cưỡi ngựa rất uy nghi, và cuối vườn có nhiều kiến trúc ảnh hưởng từ thời La-mã, với hai hàng cây cao rợp bóng. Các nấc thang lên xuống đài Château d’Eau bị lem ố vì phong sương và rêu mốc. Trong tương lai chắc phải tốn thêm ngân sách nhà nước để bảo trì các di tích này. Và cuối công viên là Saint-Clément Aqueduct (cầu cống dẫn nước) dài 800 mét nổi tiếng, được xây theo kiểu La-mã vào năm 1772. Nhưng sao khu lịch sử này vắng vẻ quá, chẳng lẽ bà con du khách không còn để ý đến thời vàng son của đế chế Pháp quốc?  Chúng tôi nhủ lòng ngày mai sẽ viếng các khu có đông người hơn. Ra ngoài chợ chắc sẽ thấy số đông!Hôm sau, chúng tôi đi thăm hai khu trung tâm hiện đại hơn. Đó là khu chợ Polygone và khu gia cư Antigone. Kiến trúc phố xá khá đẹp. Khu nhà ở được xây theo hình vòng cung thật rộng rãi, lại có vài biệt thự với kiểu mái hiên cong cong, chìa ra bên ngoài không giống ai. Thật là lạ! Hồi xưa, tôi đã theo nghề xây cất mà nghĩ hoài cũng không ra cách làm. Mái cong cong, giống như đôi mắt mơ-huyền của người đẹp, được gắn thêm cặp lông mi giả. Hết chỗ chê!
Còn khu chợ thương mại thì được xây dựng với cổng vào bằng loại kính râm, trông mát mắt và rất thẩm mỹ. Tuy mới 6 giờ chiều mà chợ búa lại vắng hoe, không thấy thiên hạ qua lại. Hôm qua tôi đã đoán sai. Tưởng ngoài chợ thì đông người. Có lẽ kinh tế sa sút nên bán buôn cũng không còn đông đúc. Thôi thì đi xem cảnh cũng được!
lo 5Có bản đồ trong tay, chúng tôi cứ tha hồ lội bộ, chừng nào mẳng-hai-cái-cỏi (tức là mỏi hai cái cẳng) thì dừng lại chừng mươi phút, dùng đôi tay xoa bóp cặp chân chút xíu cho giãn gân cốt, rồi lên đường đi tiếp. Thường thì tôi hay dừng chân ở mấy tượng đài kỷ niệm để chiêm nghiệm và nghiên cứu thêm chuyện hay, việc lạ, trong thiên hạ, hầu kể lại cho các bạn nghe.
lo 6Thí dụ tượng thứ nhất: hình người đang cõng một con ngựa chết (hay đang bệnh). Dưới bệ tượng có bảng ghi như vầy: ORLANDO FURIOSO / Apel Les FERNOSA (1889-1988) / D’aprés l’Arioste / Poète italien du XVIème Siecle.  Ông Apel Les Fernosa sinh tại Barcelona năm 1889, là một điêu khắc gia từ Tây Ban Nha. Ông chỉ được nổi tiếng sau khi sang sống tại Paris và được quen với Pablo Picasso. Một trong những tác phẩm đặc sắc của Fernosa là Orlando Furioso.  Orlando Furioso là tên của một thiên hùng sử thi (epic poem) do Ludovico Ariosto (1474-1533) người Ý sáng tác, và được William Stewart Rose (1775-1843) dịch thuật và trình làng vào năm 1823-1831.  Còn về ý nghĩa của tượng hình này thì xin cho bạn đọc được quyền phát triển.
Thí dụ tượng thứ nhì: hình nữ thiên thần với đôi cánh nhưng bị cụt đầu, được đặt trước Place de l’Europe. Dưới bệ có hàng chữ: Victoire De Samothrace. Đây là tên của nữ thần chiến thắng trong thần thoại Hy-lạp vào thế kỷ thứ hai trước Công nguyên, và bức tượng điêu khắc này được sao lại từ bản chánh rất nổi tiếng (cũng bị cụt đầu), hiện đang được cất giữ ở bảo tàng viện Louvre của thủ đô Paris. Không biết cái đầu của bà tiên này trôi về đâu rồi?
Công trường Place de la Comédie nổi tiếng nhộn nhịp cũng ở gần đây, nên chúng tôi quá bộ cho biết tình hình. Đây là khu cổ với nhiều khu nhà xưa cũ. Giữa đường đi: xe hơi, xe trem và người bộ hành chen lẫn vào nhau như một khúc hòa tấu lạc điệu. Không đèn đường xanh đỏ báo hiệu, không tiếng kèn xe inh ỏi ồn ào, cũng không thấy bóng dáng cảnh sát đâu cả, thế mà mọi việc đều trôi chảy êm xuôi, một cách an nhiên tự tại.
Người Pháp, đặc biệt là dân Pháp sống ở Montpellier, khác hẳn một trời một vực với dân Parisien. Thiệt tình, tôi không biết ai hiền hơn ai! Nhưng xét bề ngoài thì Montpellier có lẽ hiền hơn. Đây là thành kiến chủ quan của tôi, mà nhiều khi trúng phóc!
Gần bên công trường Place de la Comédie là một vài biệt thự xây theo kiểu hiện đại, cao hơn khu nhà cổ và hình thù cũng lạ hơn. Với số dân ngày càng gia tăng, một số kiến trúc mới được xây dựng chen lẫn vào những dãy phố cũ kỹ tạo cho Montpellier thành loại tân cổ giao duyên.
Hệ thống xe điện tramway (xe trem) gồm có 4 đường chính, được dùng làm công quản chuyên chở cho địa phương, có thể đưa cư dân đến mọi địa điểm trong thành phố Montpellier. Cả 4 tuyến này đều đi ngang nhà ga Saint-Roch, rồi từ đây có thể dùng xe lửa để đi khắp mọi miền nước Pháp. Nhà ga này đang được chỉnh trang, xây cất cho lớn thêm, và xử dụng các bảng thông báo thời biểu toàn bằng điện tử hiện đại. Montpellier muốn biến các dịch vụ chuyển vận hành khách giữa thành phố to và thành phố nhỏ một cách dễ dàng, thuận lợi.
Cách trang trí trên vỏ xe trem (xe điện tramway) rất là lạ. Có xe sơn đủ màu technicolor (đỏ, cam, vàng, xanh, lam, chàm, tím) và có chiếc sơn toàn bông hoa tươi thắm. Các kiểu sơn này không lòe loẹt và chói mắt bằng các chiếc xe đò bên Bangkok – Thái-lan.
Sáng sớm ngày mai, chúng tôi sẽ thử leo lên tuyến xe trem số 2, và ngồi từ trạm đầu tiên đến trạm cuối cùng, trước là để cảm giác xe chạy êm đến độ nào, và sau là để thấy rõ được một phần của vòng thành phố. Mỗi lần leo lên xe chỉ tốn có 1.8 Euro mà thôi!   
Và anh bạn lãng tử người Madagascar trên chuyến xe trem
Và anh bạn lãng tử người Madagascar trên chuyến xe trem
Tôi ca không hay, nhưng rất hay ca! Và ca rất lớn trong phòng tắm. Đang đợi xe trem (tramway) tuyến số 2, bỗng thấy một anh chàng lãng tử, cũng đang đợi xe trem, tay ôm đàn guitar thùng và tự dạo lên điệu xì-lô-róc (slow rock), tông đô thứ, nghe buồn não nuột, nhưng rất gợi cảm; tôi nổi hứng ê a ca bài Diễm xưa của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (lời Việt) theo điệu nhạc lắc lư (rock) và chầm chậm (slow). Lắc lư chầm chậm nên gọi là điệu ‘slow rock’ (xì-lô-róc). Tiếng hát và tiếng đàn guitar quyện lẫn vào nhau, đón chào buổi sớm mai không thua gì chim hót ngoài sau vườn.
Đây là lần đầu tiên tôi hát ở chỗ công cộng, tại trạm đón xe trem, không một khán giả ái mộ vây quanh, ngoại trừ ca sĩ Vĩnh Thanh Thảo đang đứng chụp hình và phải xem màn biểu diễn bất-đắc-dĩ của chúng tôi. Đây cũng là lần đầu tiên tôi trình diễn với một nghệ sĩ ngoại quốc mà tôi chưa biết danh tánh. Nhưng không sao! Giọng tôi cao vút, ăn khớp với điệu nhạc trầm buồn. Cặp chúng tôi có thể trở thành một show hát của nghệ sĩ hè phố trên kinh đô Paris! Chỉ thiếu là một cái nón lá sấp ngửa đặt dưới sàn đất, chờ khách mộ điệu đoái hoài. Ở đời: ai mà biết được !?$
Tiếng bánh xe nghiến nghe ken-két đã đem chúng tôi về thực tại. Chúng tôi bước lên xe, nhạc công tùy hứng và ca sĩ gan lì, cả hai bắt tay nhau rồi tự giới thiệu. Ảnh là người Pháp-gốc-Madagascar, nói tiếng Pháp và sinh ngữ phụ là tiếng Anh. Tôi người Mỹ-gốc-Việt, nói tiếng Anh và sinh ngữ phụ là tiếng Pháp. Hai người giao lưu với nhau bằng sinh ngữ phụ của mình. Mạnh ai nấy nói và cấp độ hiểu nhau thì tùy hỉ. Tôi còn khoe là tôi cũng có thể ca bài Diễm xưa bằng tiếng Nhật, vì hồi xưa tôi có chu du bên Nhật. (Tôi rất rành tên các món ăn sashimi bằng tiếng Nhật). Ảnh lại khen: tôi hát không tệ! Ngược lại, các cháu tôi bên Mỹ, mỗi lần nghe tôi ca, chúng thường chê: bác ca, không những tệrất tệ! Ở đời: ôi! hơi đâu mà nghe tiếng thị phi @%&#Tên của anh bạn lãng tử là Ranaivoson Jacques “Coco”. Có lẽ Coco là biệt hiệu văn nghệ của anh Jacques. Tôi sẽ nhớ mãi tên của anh ta, vì không có anh thì biết ai dám bạo gan đánh đàn cho tôi hát? Và vì 100 năm trước đây, xứ của anh Coco (Madagascar) và xứ của tôi (ViệtNam) đều nằm dưới ách thống trị của đế quốc Pháp. Cha ông chúng tôi đồng cảnh ngộ. Ngồi chung trên xe trem độ 15 phút thì phải chia tay. 15 phút phù du! Quí mến nhau sao cho vừa!
Tôi suy nghĩ vẩn vơ về anh Coco, về dân tộc Madagascar, về 100 năm về trước, về sự tinh ranh của đế quốc Pháp, về phương pháp cai trị thuộc địa của đế quốc Pháp. Đế quốc Pháp nói riêng và các đế quốc thực dân nói chung. Chúng đều giống nhau một điểm: lấy dân xứ này đi đàn áp dân xứ khác. Thí dụ: đem lính chà-gạch-mặt sang cai quản ViệtNam, rồi đem lính an-nam-mít sang cai quản châu Phi, và cả hai đạo quân không-phải-là-người-Pháp đều đặt dưới trướng chỉ huy của các vị sĩ quan nhà nghề người Pháp được xuất cảng từ mẫu quốc.
[Ghi chú 1: chà-gạch-mặt = người da đen từ châu Phi, theo các bộ tộc có tập tục gạch mặt khi thành niên (khoảng 12 tuổi), để chứng tỏ mình là người gan dạ. Chà là gọi tắt của chữ chà-và (Java: đọc là ‘chà-và’, thổ dân da đen của xứ Nam-dương, Indonesian, sống trên đảo Java). Ai đó, đã gọi lầm lộn người da đen ở châu Phi và người da đen ở Java, vì thấy màu da đen của hai bên giống nhau. Thiên hạ theo đó mà gọi trật.
Ghi chú 2: an-nam-mít = annamite (tiếng Pháp, nghĩa là dân An-nam), tên gọi từ quan Pháp thuộc địa dùng để chỉ người ViệtNam vì họ ghi theo sách vở của Tàu. Đời nhà Đường của Tàu (thế kỷ 7) khi đô hộ dân Lạc-Việt thì đặt tên là An-nam Đô hộ phủ; và khi đô hộ dân Cao-ly (Triều-tiên, Đại Hàn) thì đặt tên là An-đông Đô hộ phủ. Tây học theo sách Tàu, gọi dân Ta là An-nam. Từ an-nam-mít là ký âm của annamite xuất hiện từ đó].
Xe trem có nhiều toa. Khi chạy qua một đoạn đường cong, toa này đùn/dồn toa kia làm cho hành khách cảm thấy toàn thân bị giật. Ngồi trên toa chỉ còn hai đứa tôi, còn anh bạn đột xuất Coco thì đã đi rồi! Chúc anh Coco được nhiều điều may mắn.
Nếu anh là một nghệ sĩ hè phố thì tôi ước cho anh trôi dạt tới những chỗ nghỉ mát như Marseille, Nîmes, Le Grau-du-Roi để cho du khách thưởng lãm. Ngày mai chúng tôi sẽ đi chơi vùng Nîmes và Grau-du-Roi. Hy vọng trái đất tròn, chúng tôi còn gặp Coco ở đó. Lần tới, nếu gặp ảnh, tôi sẽ hát tặng bài Giấc mơ ChaPi, nhạc và lời của Trần Tiến. Tôi đã bắt chước được giọng ca khàn khàn và cao vút y như của ca sĩ Y-Moan (đã qua đời), một nghệ nhân hiếm quý thuộc vùng rừng núi Tây nguyên của ViệtNam. (Bài Diễm xưa tôi dùng tông đô, còn bài này sẽ xài tông la):
…..  Ở nơi ấy 
Họ đang sống cuộc sống yên bình   ai nghèo  cũng có cây đàn ChaPi,
Khi rung lên vài sợi dây, đàn đã đong đầy,
 hồn người Raglai.
Ôi Raglai  những rừng cây ngọn núi mang tiếng đàn
ChaPi i ì i í
Ai yêu tự do
 yêu rừng xanh  thì lên núi  nghe đàn  ChaPi i ì i í
Tôi yêu
ChaPi không còn cô đơn  không buồn  không vui.
Tôi nghe
ChaPi  chợt thấy nao lòng  vì một giấc mơơớ   ôi Chapi  …..
Tôi thích bài ca này vì dân tộc Madagascar và ViệtNam là dân thiểu số ở Pháp, giống như anh Y-Moan là thiểu số ở ViệtNam. Ở Pháp, dân thiểu số sống hạnh phúc vì nhờ chính sách nhà nước dân chủ đãi ngộ. Còn làm dân thiểu số ở ViệtNam như dân Tây nguyên, dân Chăm, hay dân Khơ-me thì tội nghiệp lắm! Họ đang bị đàn áp và bạc đãi dữ dội: đất đai bị cướp đoạt, văn hóa bị hủy diệt và việc thờ phụng bị khinh miệt. Ai muốn biết thêm chi tiết, xin mời qua thăm dân oan ViệtNam đang lánh nạn cộng-sản tại Thái Lan. Tôi biết anh Y-Soái bên đó. Đông lắm!
Dân Tây nguyên còn cây đàn ChaPi và một giấc mơ: ai yêu tự do, yêu rừng xanh thì lên núi
Ai yêu tự do và yêu rừng xanh thì hãy lên núi… Không biết lên núi để làm cái gì?
Nhà nước cộng-sản ViệtNam đánh lộn thì hay mà xây dựng thì rất tệ! Thật ra, nói đánh lộn hay, cũng không đúng hẳn. Ngày xưa, sáu bảy chục năm về trước, nhờ lợi dụng được tình tự yêu nước của dân tộc, nên mới cự nổi với Tây; còn bây giờ đối với Tàu thì nhát như cáy! Lý do là không lo tạo nội lực, chỉ sống nhờ tá lực (sức của người khác) thì sức đâu mà đánh. Loanh quanh ba cái mẹo vặt như xài ‘nặc danh’, ‘chia để trị’, ‘đu dây’ theo đủ 36 kiểu (tam-thập-lục-kế) của Tôn- Ngô binh pháp thì Tàu cộng nó đâu có e ngại! Trung-cộng là thầy của Việt-cộng mà! (theo lời ông Bảy Trấn kể lại).
Đụng cái gì cũng đổ thừa tại tàn dư chiến tranh. Sao không chịu ngó qua Nam Hàn, Nhật Bổn và Đức quốc kia kìa. Xứ họ cũng bị chiến tranh và tan tành xí quách, mà chỉ sau đôi ba chục năm là khôi phục được liền. Sao không chịu học cách xây chí nhân và dựng đại nghĩa của thầy Nguyễn Trãi? hay kiểu muốn-bắt-thì-hãy-thả-ra của thầy Lão Tử phương Nam?
1.     Thăm Cổ Thành NÎMES
Anh Khương đã bỏ nghề lái xe, nhưng rủ anh Paul là người Pháp-trắng (gốc Pháp-Ý, dân Pied-Noir từ Tunisie về) đã về hưu trong nhóm bạn thích chụp hình, đưa chúng tôi đi thăm cổ thành Nîmesbãi biển Le Grau-du-Roi. Đây là hai nơi nổi tiếng của miền Nam nước Pháp cho khách du lịch. Tôi là tay chụp hình tài tử, thấy đâu chụp đó, và phương tiện là cái máy Canon – PowerShot SD750 cũ kỹ. Còn hai anh bạn tôi thuộc loại nhà nghề, có chân trong hội nhiếp ảnh, trang bị đủ loại máy móc tối tân hiện đại, ngó vô bản lãnh là thấy có vẻ nặng nề và bộn bạc.
Nếu bạn đọc nào chưa hài lòng về những bức ảnh tôi chụp được trong bài ký sự này thì xin vui lòng gửi tặng cho tôi một máy chụp hình khác, mới hơn, tốt hơn và mắc hơn. Tôi rất cảm ơn, nhưng vẫn không chắc bảo đảm được phẩm chất đẹp hơn máy cũ, vì hình chụp là phản ảnh của con mắt, còn khả năng nhiếp ảnh của tôi thì chỉ biết dựa vào ngón trỏ bấm nút của mình. Xin quý bạn thông cảm! Tôi thuộc loại ‘lô-tách’ (low-tech), chỉ biết nhắm rồi bấm.
Tất cả hình ảnh trong bài là do tôi chụp. Thỉnh thoảng để làm rõ nghĩa hơn, tôi xử dụng thêm một vài bức mượn bên ngoài. Nhưng rất ít. Tất cả tài liệu và hình ảnh trích dẫn đều được trưng nguồn để cung ứng giá trị cho bài ký sự theo hai tiêu chuẩn của trường quy: 1. tính hiệu lực (validity) và 2. tính khả tín (reliability).
Giải-trí-trường La-mã của thành phố Nîmes, xây dựng vào thế kỷ thứ 2 [l’Amphithéâtre Romain de Nîmes] Nguồn  http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/83/N%C3%AEmes%2C_Centre_ville.jpg
Giải-trí-trường La-mã của thành phố Nîmes, xây dựng vào thế kỷ thứ 2
[l’Amphithéâtre Romain de Nîmes]
Nguồn http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/83/N%C3%AEmes%2C_Centre_ville.jpg
Nîmes là thành phố rất cổ. Khảo cổ học cho biết, đã có thổ dân (gốc dân Gaulois, tổ tiên của người Pháp bây giờ) ở đấy cả mấy ngàn năm trước công nguyên vào thời đại Đồ Đồng. Đạo quân viễn chinh của La-mã đã dùng đất này làm thuộc địa, tạo thành điểm tựa cho con đường nối liền từ đế quốc La-mã sang đất Tây-ban-nha vào thế kỷ thứ nhất trước công nguyên.
Kiến trúc đồ sộ nhất của Nîmes là Giải-trí-trường La-mã (l’Amphithéâtre Romain) đã được dùng làm công trường giác đấu từ cuối thế kỷ thứ 1, và nhiều thế kỷ sau lại có thêm màn đấu bò. Giác đấu là trò vui của dân La-mã khi xem người giết người (gladiator), thường là dân nô lệ. Còn đấu bò là trò vui của dân Tây-ban-nha (Spain) khi xem người giết bò mộng; nhưng đôi khi, tay đấu bò (torero, matador) gặp số xui, bị bò báng lòi ruột như chơi! Khi Nîmes thuộc về đất Pháp rồi thì l’Amphithéâtre được dùng cho những buổi hòa tấu âm nhạc ngoài trời (concert).
Hiện thời, thành phố đang bỏ tiền để sửa chữa lại hội trường sau cả ngàn năm phong trần, hầu hấp dẫn thêm du khách và khách đến nghe nhạc. Trong khi chờ đợi năm sau sẽ sửa xong thì đã có ba, bốn bạn homeless (vô gia cư) đến dựng lều ngủ tạm qua ngày.
Giải-trí-trường La-mã được dùng làm chỗ đấu bò trong quá khứ (thế kỷ 19), nên trước cửa vào hội trường, một bức tượng bằng đồng tuyệt xảo được dựng lên. Từ nét mặt cho đến y phục của tay đấu bò này được trình bày một cách chi tiết và tỉ mỉ, khiến du khách ghé xem luôn trầm trồ và thích đứng chụp hình chung với bức tượng. Đi dạo chung quanh vòng đai của hội trường, chu vi dài khoảng 365 mét, giữa trời nắng chang chang thì mệt quá!
Chúng tôi ghé qua quán nước bên đường, đối diện với giải-trí-trường, để tìm một ly nước giải khát. Quán lại không có nước đá !?$  Uống xong, anh Paul hỏi bằng tiếng Pháp: voulez-vous visiter Les Jardins de la Fontaine? Tôi trả lời bằng tiếng Mỹ, và nhờ anh Khương đứng ở giữa làm thông ngôn: đi đâu cũng được, miễn là có bóng cây thì OK! Thế là mọi người đồng ý kéo nhau đi thăm Vườn bông Les Jardins de la Fontaine.

Khương & Paul và T & T
Khương & Paul và T & T
Anh Paul là dân địa phương ở đây đã mấy đời, cho biết: trước cổng vào vườn bông là bãi đậu xe ngầm dưới đất, lớn nhất thế giới! Wow! Không biết anh bạn Pháp-trắng này nói giỡn hay nói chơi đây? Không biết QPark (tên của bãi đậu xe) này chứa được bao nhiêu xe mà đòi giành giải quán quân nhất thế giới. Bên Mỹ, bãi đậu xe ngầm lớn nhất dưới đất là bãi đậu của công ty Microsoft ở Redmond, bang Washington; nó chứa tới 5000 chiếc xe.
Pháp với Mỹ cãi nhau từng li từng tí, từ hồi Mỹ lập quốc tới giờ (1776). Trước đây, trong quá khứ qua nhiều thế kỷ, Pháp với Anh cũng tranh giành từng tí từng li; may mà nhờ cách nhau một con biển, nên lâu ngày cơn giận dữ từ từ nguôi dần. Đến khi dân Mỹ đánh nhau với đế quốc Anh giành độc lập, thì Pháp lại đem quân mình giúp cho Mỹ, phần nào tạo cơ hội để Mỹ chiến thắng. Rồi khi Pháp bị Đức đánh chiếm hồi đệ nhị thế chiến, thì Mỹ cũng đổ bộ ở Normandie, hy sinh biết bao sinh mạng. Có qua có lại, mới toại lòng nhau, nên dĩ hòa vi quý!
Xin trở lại việc đi thăm vườn bông Les Jardins. Trong vườn trồng rất nhiều cây, nên đầy bóng mát. Thiên hạ tụ năm tụ ba ngồi quanh gốc cây to để nghỉ ngơi, trò chuyện hoặc ăn trưa. Rất thanh nhàn và yên tĩnh! Lại có hồ nước nữa, thật là nơi chốn lý tưởng cho các bạn thích ngồi thiền, sau một ngày làm việc đảo điên ngoài phố. Vườn này xây nhiều kiến trúc có từ hồi thế kỷ thứ 18, nhất là dựng các tượng người đứng hai bên đường dẫn vào công viên, như chào đón khách thập phương đến viếng cảnh.
Dưới hồ nước có một bầy cá koi (giống cá Nhật Bổn) đang bơi lội nhởn nhơ. Rất thảnh thơi và nhàn hạ! Anh Paul bèn hỏi tôi: anh không phải là cá, sao anh biết nó nhàn hạ? (lại qua lời thông ngôn của anh Khương). Tôi bèn bắt chước thầy Trang-Tử, đi một hơi: anh không phải là tôi, sao anh biết tôi không biết là cá nó nhàn hạ? Bỗng nhiên, một cặp ngỗng trời (thiên nga) từ trên không sà xuống mặt hồ, khiến bầy cá thơ ngây lặn mất. Và tôi cũng mất hứng lý sự cùn luôn!
Ở một góc công viên là một dàn sân khấu lộ thiên đang được dựng lên với một hệ thống âm thanh và ánh sáng tối tân để chuẩn bị cho một buổi trình diễn hòa nhạc kích động. Tôi biết là họ sẽ chơi nhạc kích động, vì có tới hai dàn trống nguyên bộ (complete drum set). Tôi hồi còn ở trung học cũng có chơi đánh trống, nên ngó vô là biết liền, khỏi cần suy diễn.
Trống Tây, trống Tàu, tôi đều đánh ráo! Trống Tây là để chơi ‘nhạc đại chúng’ (popular music), còn trống Tàu là để múa lân. Tôi không thích dùng chữ ‘nhạc sến’ vì không đúng nghĩa, đụng chạm tâm lý nhiều người. Tôi thường dùng chữ ‘nhạc đại chúng’ nhiều hơn và càng tránh chữ ‘nhạc quần chúng’ vì có người tưởng rằng ‘thiếu áo’ (ngược lại với quần).
Trong vườn bông này còn có Tháp Magne (La Tour Magne) được xây khoảng 10 năm sau khi Đền Nữ Thần Diana (LeTemple de Diane) được dựng lên năm 25 trước công nguyên. Các đền đài này đều là kiến trúc của La-mã thời cổ đại còn sót lại. Cách đây trên hai ngàn năm, những tảng đá nặng cả chục người khiêng, không biết làm sao mà các nghệ nhân La-mã, thật ra là dân nô lệ của La-mã, có thể nâng lên cao, chồng chất vào nhau mà không dùng đến hồ keo, để có thể tạo nên một lâu đài tuyệt kỹ như thế! Tôi liên tưởng đến dân Ai-cập với kim-tự-tháp và dân Champa cùng tháp Chàm vào thời xa xưa.
Người xưa đâu? Mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu! [Trích lời theo bài ca Hận Đồ Bàn của nhạc sĩ Xuân Tiên]
Người xưa đâu? Mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu!
[Trích lời theo bài ca Hận Đồ Bàn của nhạc sĩ Xuân Tiên]
Đền nữ thần chỉ còn một phần nóc, bốn bề là vách đứng trơ vơ. Ngoài cổng vào đã có lời dặn, cẩn thận khi đi vào trong đền. Một mắt tôi ngó lên trần đền, rảo bước nhẹ nhàng và lẹ làng, một mắt tôi nhắm vào máy chụp hình, ngón tay bấm lia lịa, và cặp cẳng luôn sẵn sàng trong tư thế để vọt, trong trường hợp bị đá rớt đè.
Chung quanh đền là lớp tường thành đã đổ nát, chỉ còn lại bệ gốc. Nhiều cây cao chen mọc tự nhiên với bóng mát che nắng cho con đường đất sạch sẽ, dắt dạo quanh ngôi đền. Dưới chân tường, cây cỏ mọc xanh rì. Thành phố cho trồng thêm một vài khóm hoa kiểng đua sắc chen màu, khiến khách nhàn du cũng tức cảnh sinh tình:
Rừng hoang vu! Vùi lấp bao nhiêu uất căm hận thù
Ngàn gió ru! Muôn tiếng vang trong tối tăm mịt mù.
(Nguồn: Hai câu đầu trong bài ca Hận Đồ Bàn của nhạc sĩ Xuân Tiên, điệu boléro)
Ngoài bờ rào ngôi đền thần nữ, tôi thấy có một phần cột đá, dài hơn năm thước, được kê nằm trên mặt đất. Chắc là cột cái của cổng vào đã bị gãy đổ. Trước cổng thấy vẫn còn một cây cột cái đứng sừng sững, nhưng chỉ cao có phân nửa.
Chúng tôi bắt đầu mỏi chân, chen lẫn với đói bụng. Quyết định: không lên đèo đến Tháp Magne trên cao điểm, vì cần thêm cả tiếng đồng hồ để leo. Chắc phải đi tìm một quán ăn trưa với vài món lót dạ ngay. Anh Paul biết đường ra phố, dẫn đầu đi trước. Chúng tôi đi xen ngang những ngõ hẻm chật hẹp. Không một bóng cây, nhưng đầy những bức tượng nghệ thuật. Dân Pháp tự hào về nghệ thuật đắp tượng của mình là phải!
Một cách chung chung thì người Pháp rất thích các tượng khoả thân. Tôi cũng thích nữa! Anh Paul chụp lia lịa. Anh Paul ở trong nhóm chụp hình nhà nghề của thành phố mà! Anh Khương và tôi cũng đua nhau bấm máy các bức tượng. Còn Vĩnh Thanh Thảo tuy đói meo, nhưng vẫn cố gắng, hoặc đứng, hoặc ngồi một cách điệu bộ để làm người mẫu chụp hình, khi có lời mời.
Nhà cửa san sát vào nhau. Hẻm phía sau nhà, xe hơi đậu đầy, không thấy ai lai vãng. Còn hẻm phía trước nhà thì lai rai một vài người quá bộ. Có người ngồi bệt trước sân nhà để nghỉ mệt. Cuối lộ đường là một thánh đường nho nhỏ. Nếu không quá đói thì tôi sẽ ghé vào nhà thờ để cầu nguyện và nhớ thương về người thân đã khuất. Còn bây giờ thì, xin lỗi, dĩ-thực-vi-tiên!  
Bên trong nhà, đồ đạc không biết trưng bày hoặc diện mạo như thế nào, mà cổng vào và cửa cái bên ngoài thông vào nhà, trông rất trang nhã, đàng hoàng và bệ vệ. Thường là cửa hai cánh, bằng sắt nặng hoặc bằng gỗ tốt. Dân Pháp tự hào về nghệ thuật nhà cửa của mình là đúng!  
Ăn trưa xong, chúng tôi rảo bước chung quanh khu phố nhỏ, vừa xem các cửa hiệu, vừa xem dân tình, và nhất là, vừa cho tiêu hoá mấy ổ bánh mì Tây, ngon nhất thế giới! Hàng quán nhỏ nhắn, xinh xắn, chỉ coi qua cho biết giá cả . Thứ gì cũng mắc. Mắc quá trời!
Mắc thì mắc, nhưng vì thèm cà-rem (ice cream), nên tôi cũng thử một muỗng nhỏ kem vanilla của địa phương cho biết, giá 2 €. Kem Pháp không ngon bằng kem Mỹ. Cả đời tôi lớn lên với cà-rem Mỹ, ai nói gì thì nói, cà-rem Mỹ vẫn ngon hơn cà-rem Pháp. Và cà-rem California, đối với tôi, vẫn là ngon nhất thế giới  !
Thử kem Nîmes rồi, thì đã 2 giờ trưa. Chúng tôi lại lội bộ tới đền thờ La Maison Carrée. Đây là nhà thờ La-mã, xây dựng vào năm thứ 4 sau công nguyên. Nhà thờ gồm có hai phần. Phần một: phía trước đền (ngoại đền = portico, pronaos) với vùng đất rộng bao quanh bên ngoài, là nơi công cộng để thiên hạ tụ tập. Phần hai: phía trong đền (nội đền = shrine room, cella) với các bậc thang có lính La-mã gác dàn ngoài để bảo vệ cho hàng tư tế hành lễ bên trong.
Đền thờ La Maison Carrée
Đền thờ La Maison Carrée
Maison có nghĩa là Nhà. Carrée có nghĩa là vuông vức, hình thể có bốn cạnh vuông. Hình chữ nhật và hình vuông trong hình học đều có thể gọi là ‘carrée’ (ca-rê).
Ngày nay, đền thờ không còn dùng làm chỗ thờ phụng nữa, mà là thắng cảnh để khách thập phương đến thăm viếng. Các cột của phần ngoại đền đã bị hư hại toàn diện, chỉ còn để lại một vài gốc bệ mà thôi, còn phần nội đền thì vẫn còn tốt. Du khách có thể ngồi vòng ngoài đền, bây giờ trở thành các quán ăn, để uống cà-phê và ngắm cảnh thiên hạ: ông-đi-qua-bà-đi-lại; hoặc có thể mua vé vào trong đền để xem lại các tài liệu về những di tích lịch sử của thành phố Nîmes như các trận giác đấu và các trận đấu bò giải trí, vào thời cổ đại và cận đại.
© Trương Như Thường
© Đàn Chim Việt
(còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Góp Nhặt

Blog Anh

Lưu trữ Blog