Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014

Nhìn Lại Nền Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa : Sự Tiếc Nuối Vô Bờ Bến

Huỳnh Minh Tú

Sách Giáo Khoa Thời Việt Nam Cộng HòaGiáo dục Việt Nam Cộng Hòa là nền giáo dục Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và cho rằng "nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí," "nền giáo dục đại học được tự trị", và "những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn."
Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng Hòa gồm Tiểu Học, Trung Học, và Đại Học, cùng với một mạng lưới các Cơ Sở Giáo Dục Công Lập, Dân Lập, và Tư Thục ở cả ba bậc học, và hệ thống tổ chức quản trị từ Trung Ương cho tới Địa Phương.




Phòng Thí Nghiệm ở Viện Pasteur Sài Gòn [Hình trên Internet]

Tổng quan

Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và cả Lào cùng Campuchia. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, Tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945, chương trình học của Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời chính phủ Trần Trọng Kim - được đem ra áp dụng ở miền Trung và miền Bắc.
Riêng ở Miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở Miền Nam để thay thế cho chương trình Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo thực sự của mình.



Một buổi lễ khánh thành tượng Petrus Ký trong khuôn viên [công viên 30/4 hiện tại], nằm trên đường Boulevard Norodom – [ Đại Lộ Thống Nhất trước Dinh Độc Lập, hướng về Nhà Thờ Đức Bà. ]Ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ Nhất Cộng Hòa, những người làm công tác giáo dục ở Miền Nam đã xây dựng được nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu. Những vấn đề đó là: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị.
Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở Miền Nam Việt Nam trong những năm 1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết, để chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn.
Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng Hòa có một phần năm [20%] dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh trunghọc, và 101.454 sinh viên đại học; số người biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số. Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người [không tính các sinh viên theo học ở Học viện Hành Chính Quốc Gia và ở các trường đại học cộng đồng.]



Cảnh giờ rước học sinh tan trường.Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm [từ 1955 đến 1975], bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho Quốc Phòng và Nội Vụ [trên 40% ngân sách quốc gia dành cho Quốc Phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7-7,5% cho Giáo Dục], nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp vững chắc ngay cả ở các quốc gia phát triển.
Kết quả này có được là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống khiêm nhường để đóng góp trọn vẹn cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp công sức cho việc xây dựng nền giáo dục quốc gia, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở Miền Nam Việt Nam.



Thầy cô giáo [Giáo Sư] thời Việt Nam Cộng Hòa

Triết lý giáo dục

Năm 1958, dưới thời Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục Trần Hựu Thế, Việt Nam Cộng Hòa nhóm họp Đại Hội Giáo Dục Quốc Gia [lần I] tại Sài Gòn. Đại hội này quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật… Ba nguyên tắc "nhân bản" [humanistic], "dân tộc" [nationalistic], và "khai phóng" [liberal] được chính thức hóa ở hội nghị này.
Đây là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa [1967].



Khóa Hội Thảo Cải Tổ Chương Trình Sư Phạm.

1. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục nhân bản.

Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác.
Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá conngười, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.


2. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục dân tộc.

Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.


Sinh viên Đại Học Dược Khoa Sài Gòn gói bánh chưng để đem giúp đồng bào Miền Trung bị bão lụt năm Thìn 1964.

3. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục khai phóng.

Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.
Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đề ra những mục tiêu chính sau đây cho nền giáo dục của mình. Những mục tiêu này được đề ra là để nhằm trả lời cho câu hỏi: Sau khi nhận được sự giáo dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại.

Mục tiêu giáo dục thời Việt Nam Cộng Hòa:



1. Phát triển toàn diện mỗi cá nhân.

Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức. Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào.



Thanh nữ Việt Nam Cộng Hòa

2. Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh.

Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.



Người dân miền Nam biểu tình phản đối Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, năm 1974.

3. Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học.

Điều này thực hiện bằng cách: Giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại.



Mặt tiền của Viện Đại Học Sài Gòn [Số 3 Công Trường Chiến Sĩ ]

Giáo dục tiểu học:




Một lớp tiểu học ở miền Nam vào năm 1961.Bậc Tiểu Học thời Việt Nam Cộng hòa bao gồm năm lớp, từ lớp 1 đến lớp 5 [thời Đệ Nhất Cộng Hòa gọi là lớp Năm đến lớp Nhất]. Theo quy định của hiến pháp, giáo dục tiểu học là giáo dục phổ cập [bắt buộc]. Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa đã có luật quy định trẻ em phải đi học ít nhất ba năm tiểu học. Mỗi năm học sinh phải thi để lên lớp. Ai thi trượt phải học "đúp," tức học lại lớp đó. Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.
Số liệu giáo dục bậc tiểu học[8]


Niên Học Số Học Sinh Số Lớp Học
1955 400.865 8.191
1957 717.198[9]
1960 1.230.000 [9]
1963 1.450.679 30.123
1964 1.554.063[10]
1970 2.556.000 44.104
Học sinh tiểu học chỉ học một buổi, sáu ngày mỗi tuần. Theo quy định, một ngày được chia ra 2 ca học; ca học buổi sáng và ca học buổi chiều.
Vào đầu thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa có 2,5 triệu học sinh tiểu học, chiếm hơn 80% tổng số thiếu niên từ 6 đến 11 tuổi; 5.208 trường tiểu học [chưa kể các cơ sở ở Phú Bổn, Vĩnh Long và Sa Đéc.]



Học sinh lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa – [Lớp Bốn lớp Năm bây giờ.]Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Một để bắt đầu bậc tiểu học. Phụ huynh có thể chọn lựa cho con em vào học miễn phí cho hết bậc tiểu học trong các trường công lập hay tốn học phí (tùy trường) tại các trường tiểu học tư thục.
Lớp 1 [trước năm 1967 gọi là lớp Năm] cấp tiểu học mỗi tuần học 25 giờ, trong đó 9,5 giờ môn Quốc văn; 2 giờ Bổn phận công dân và Đức dục [còn gọi là lớp Công dân giáo dục.] Lớp 2 [trước năm 1967 gọi là lớp Tư], Quốc văn giảm còn 8 tiếng nhưng thêm 2 giờ Sử ký và Địa lý. Lớp 3 trở lên thì ba môn Quốc văn, Công dân và Sử Địa chiếm 12-13 tiếng mỗi tuần.



Giờ sinh hoạt của toàn trường thời bấy giờ.Một năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba tháng hè. Trong năm học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ [thông thường vào những ngày áp Tết.]



Thẻ căn cước học sinh Trường Trung Học Võ Trường Toản

Giáo dục trung học:




Các vị Giáo Sư Trường Trung Học Hồ Ngọc CẩnTính đến đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng Hòa có hơn 550.000 học sinh trung học, tức hơn 20% tổng số thanh thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18; có 534 trường trung học (chưa kể các cơ sở ở Vĩnh Long và Sa Đéc).

Đến năm 1975 thì có khoảng 900.000 học sinh ở các trường trung học công lập. Các trường trung học công lập nổi tiếng thời đó có Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trưng Vương, Gia Long, Lê Quý Đôn (Sài Gòn) tiền thân là Trường Chasseloup Laubat, Quốc Học (Huế), Trường Trung học Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ)…
Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.

Tên gọi năm lớp bậc tiểu học



Trước 1975 Sau 1975
Lớp Năm Lớp Một
Lớp Tư Lớp Hai
Lớp Ba Lớp Ba
Lớp Nhì Lớp Bốn
Lớp Nhất Lớp Năm[10]

Tên các lớp bậc trung học đệ nhất cấp



Trước 1975 Sau 1975
Lớp Đệ Thất Lớp Sáu
Lớp Đệ Lục Lớp Bảy
Lớp Đệ Ngũ Lớp Tám
Lớp Đệ Tứ Lớp Chín

Tên các lớp bậc trung học đệ nhị cấp



Trước 1975 Sau 1975
Lớp Đệ Tam Lớp Mười[10]
Lớp Đệ Nhị Lớp Mười Một[10]
Lớp Đệ Nhất Lớp Mười Hai




Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký

Trung học đệ nhất cấp:




Trường Trung Học Cộng Đồng Quận 8 Năm 1972- 1973Trung Học Đệ Nhất Cấp bao gồm từ lớp 6 đến lớp 9 (trước năm 1971 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ), tương đương trung học cơ sở hiện nay. Từ tiểu học phải thi vào trung học đệ nhất cấp. Đậu vào trường trung học công lập không dễ. Các trường trung học công lập hàng năm đều tổ chức tuyển sinh vào lớp Đệ Thất (từ năm 1971 gọi là lớp 6), kỳ thi có tính chọn lọc khá cao (tỷ số chung toàn quốc vào trường công khoảng 62%); tại một số trường danh tiếng tỷ lệ trúng tuyển thấp hơn 10%.
Những học sinh không vào được trường công thì có thể nhập học trường tư thục nhưng phải trả học phí. Một năm học được chia thành hai "lục cá nguyệt" [hay "học kỳ."] Kể từ lớp 6, học sinh bắt đầu phải học ngoại ngữ, thường là Tiếng Anh hay Tiếng Pháp, môn Công Dân Giáo Dục tiếp tục với lượng 2 giờ mỗi tuần.
Từ năm 1966 trở đi, môn võ Vovinam [tức Việt Võ Đạo] cũng được đưa vào giảng dạy ở một số trường.
Học xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp. Kỳ thi này thoạt tiên có hai phần: Viết và vấn đáp.
Năm 1959 bỏ phần vấn đáp rồi đến niên học 1966-1967 thì Bộ Quốc Gia Giáo Dục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp.



Sân Trường Marie Curie

Trung học đệ nhị cấp:




Nam Sinh Võ Trường ToảnTrung học đệ nhị cấp là các lớp 10, 11 và 12, trước 1971 gọi là đệ tam, đệ nhị và đệ nhất; tương đương trung học phổ thông hiện nay. Muốn vào thì phải đậu được bằng Trung học đệ nhất cấp, tức bằng Trung học cơ sở.
Vào đệ nhị cấp, học sinh phải chọn học theo một trong bốn ban như dự bị vào đại học. Bốn ban thường gọi A, B, C, D theo thứ tự là Khoa học thực nghiệm hay còn gọi là ban vạn vật; ban toán; ban văn chường và ban văn chương cổ ngữ, thường là Hán văn. Ngoài ra học sinh cũng bắt đầu học thêm một ngoại ngữ thứ hai.
Vào năm lớp 11 thì học sinh phải thi Tú Tài I rồi thi Tú Tài II năm lớp 12. Thể lệ này đến năm học 1972-1973 thì bỏ, chỉ thi một đợt tú tài phổ thông. Thí sinh phải thi tất cả các môn học được giảng dạy (trừ môn Thể dục), đề thi gồm các nội dung đã học, không có giới hạn hoặc bỏ bớt. Hình thức thi kể từ năm 1974 cũng bỏ lối viết bài luận (essay) mà theo lối thi trắc nghiệm có tính cách khách quan hơn.

Số liệu giáo dục bậc trung học

[8]


Niên Học Số Học Sinh Số Lớp Học
1955 51.465 890
1960 160.500[9]
1963 264.866 4.831
1964 291.965[10]
1970 623.000 9.069
Mỗi năm có hai đợt thi Tú Tài tổ chức vào khoảng tháng 6 và tháng 8.
Tỷ lệ đậu Tú Tài I [15-30%] và Tú tài II [30-45%], tại các trường công lập nhìn chung tỷ lệ đậu cao hơn trường tư thục do phần lớn học sinh đã được sàng lọc qua kỳ thi vào lớp 6 rồi. Do tỷ lệ đậu kỳ thi Tú tài khá thấp nên vào được đại học là một chuyện khó. Thí sinh đậu được xếp thành: Hạng "tối ưu"hay "ưu ban khen" [18/20 điểm trở lên], thí sinh đậu Tú tài II hạng tối ưu thường hiếm, mỗi năm toàn Việt Nam Cộng Hòa chỉ một vài em đậu hạng này, có năm không có; hạng "ưu" [16/20 điểm trở lên]; "bình"[14/20]; "bình thứ" [12/20], và "thứ"[10/20].



Thầy trò Trường Nữ Trung Học Gia LongMột số trường trung học chia theo phái tính như ở Sài Gòn thì có trường Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trường Hồ Ngọc Cẩn [Gia Định] và các trường Quốc học [Huế], Phan Chu Trinh [Đà Nẵng], Võ Tánh [Nha Trang], Trần Hưng Đạo [Đà Lạt], Nguyễn Đình Chiểu [Mỹ Tho] dành cho nam sinh và các trường Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Trường Nữ Trung học Đồng Khánh [Huế], Trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân [Đà Lạt], Trường Nữ Trung Học Lê Ngọc Hân [Mỹ Tho], Trường Nữ Trung Học Đoàn Thị Điểm [Cần Thơ] chỉ dành cho nữ sinh.
Học sinh Trung Học lúc bấy giờ phải mặc đồng phục: Nữ sinh thì áo dài trắng, quần trắng hay đen; còn nam sinh thì mặc áo sơ mi trắng, quần màu xanh dương.
Nữ Sinh Lê Văn Duyệt

Trung học tổng hợp:

Chương trình giáo dục Trung Học Tổng Hợp [Tiếng Anh: Comprehensive High School] là một chương trình giáo dục thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết gia John Dewey,sau này được nhà giáo dục người Mỹ là James B. Connant hệ thống hóa và đem áp dụng cho các trường Trung Học Hoa Kỳ. Giáo dục trung học tổng hợp chú trọng đến khía cạnh thực tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào các môn tư vấn, kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ nghệ, v.v… nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau khi rời trường trung học. Ở từng địa phương, phụ huynh học sinh và các nhà giáo có thể đề nghị những môn học đặc thù khả dĩ có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh sống.
Thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa chính phủ cho thử nghiệm chương trình Trung Học Tổng Hợp, nhập đệ nhất và đệ nhị cấp lại với nhau. Học trình này được áp dụng đầu tiên tại Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức [khai giảng niên khóa đầu tiên vào tháng 10 năm 1965] , sau đó mở rộng cho một số trường như Nguyễn An Ninh [cho nam sinh; 93 đường Trần Nhân Tông, Quận 10] và Sương Nguyệt Ánh [cho nữ sinh; góc đường Bà Hạt và Vĩnh Viễn, gần chùa Ấn Quang] ở Sài Gòn, và Chưởng Binh Lễ ở Long Xuyên.
Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang [cầm đàn] trong một buổi sinh hoạt của nhóm Du Ca với các học sinh trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức vào cuối thập niên 1960

Bổ sung

[theo góp ý của độc giả Nguyễn]:
Ở Huế: Ngày 4-8-1964 trường Đại Học Sư Phạm Huế đã thành lập một trường Trung Học trực thuộc mang tên Trung Học Kiểu Mẫu Huế [khai giảng niên khóa đầu tiên gồm 8 lớp, 320 học sinh, 24 nhà giáo, 7 nhân viên, với hiệu trưởng Trần Kim Nở].
Ở Cần Thơ: Năm 1966, Trung Học Kiểu Mẫu Cần Thơ được thành lập thuộc Phân Khoa Sư phạm của Viện Đại Học Cần Thơ.



Cổng trường Trung Học Kiểu Mẫu Huế 1964-1975

Trung học kỹ thuật:




Trường Quốc-Gia Nông-Lâm-Mục B’LaoCác trường trung học kỹ thuật nằm trong hệ thống giáo dục kỹ thuật, kết hợp việc dạy nghề với giáo dục phổ thông. Các học sinh trúng tuyển vào trung học kỹ thuật thường được cấp học bổng toàn phần hay bán phần. Mỗi tuần học 42 giờ; hai môn ngoại ngữ bắt buộc là Tiếng Anh và Tiếng Pháp.
Các trường trung học kỹ thuật có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố; ví dụ, công lập thì có Trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng (thành lập năm 1956; tiền thân là Trường Cơ khí Á Châu thành lập năm 1906 ở Sài Gòn; nay là Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng, Trường Trung Học Nông Lâm Súc Bảo Lộc, Trường Trung Học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ; tư thục thì có Trường Trung Học Kỹ Thuật Don Bosco [do các tu sĩ Dòng Don Bosco thành lập năm 1956 ở Gia Định; nay là Trường Đại Học Công Nghiệp TPHCM.]



Hiệu trưởng Cao Thanh Đảnh và các Giáo Sư trường trung học kỹ thuật Cao Thắng.

Các trường tư thục và Quốc Gia Nghĩa Tử

Các trường tư thục và Bồ Đề:



Lễ kỷ niệm 100 năm thành lập của trường Lasan Taberd 17 tháng 2 năm 1974Ngoài hệ thống trường công lập của chính phủ là hệ thống trường tư thục. Vào năm 1964 các trường tư thục giáo dục 28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trung học. Đến niên học 1970-1971 thì trường tư thục đảm nhiệm 17,7% học sinh tiểu học và 77,6% học sinh trung học.
Con số này tính đến năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa có khoảng 1,2 triệu học sinh ghi danh học ở hơn 1.000 trường tư thục ở cả hai cấp tiểu học và trung học. Các trường tư thục nổi tiếng như Lasan Taberd dành cho nam sinh; Couvent des Oiseaux, Saint Paul, Regina Pacis [Nữ vương Hòa bình], Nguyễn Bá Tòng, Hưng Đạo, và Regina Mundi (Nữ vương Thế giới) dành cho nữ sinh. Bốn trường này nằm dưới sự điều hành của Giáo Hội Công Giáo.



Sân Trường Bác Ái [Collège Fraternité]Trường Bác Ái [Collège Fraternité] ở Chợ Quán với đa số học sinh là người Việt gốc Hoa cũng là một tư thục có tiếng do các thương hội người Hoa bảo trợ. Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất có hệ thống các trường tiểu học và trung học Bồ Đề ở nhiều tỉnh thành, tính đến năm 1970 trên toàn quốc có 137 trường Bồ đề, trong đó có 65 trường trung học với tổng số học sinh là 58.466.
Ngoài ra còn có một số trường do chính phủ Pháp tài trợ như Marie Curie, Colette, và Saint-Exupéry. Kể từ năm 1956, tất cả các trường học tại Việt Nam, bất kể trường tư hay trường do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờ nhất định cho các môn quốc văn và lịch sử Việt Nam.
Chương trình học chính trong các trường tư vẫn theo chương trình mà Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã đề ra, dù có thể thêm một số giờ hoặc môn kiến thức thêm.
Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tổng cộng có 1.087 trường tư thục ở miền Nam Việt Nam bị giải thể và trở thành trường công [hầu hết mang tên mới.]



Le Collège Fraternité – Bac Ai datant de 1908, se situe 4 – rue Nguyên Trai, Cho Quan..

Các trường Quốc Gia Nghĩa Tử:




Saigon 17 March 1971
Bà Nguyễn Văn Thiệu dự lễ khánh thành
Thư Viện trường Quốc Gia Nghĩa Tử.
Ngoài hệ thống các trường công lập và tư thục kể trên, Việt Nam Cộng Hòa còn có hệ thống thứ ba là các trường Quốc Gia Nghĩa Tử. Tuy đây là trường công lập, nhưng không đón nhận học sinh bình thường mà chỉ dành riêng cho các con em của tử sĩ, hoặc thương phế binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - như là một đặc ân của chính phủ giúp đỡ không chỉ phương tiện học hành mà cả việc nuôi dưỡng.

Hệ thống này bắt đầu hoạt động từ năm 1963 ở Sài Gòn, sau khai triển thêm ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, và Biên Hòa. Tổng cộng có 7 cơ sở với hơn 10.000 học sinh. Loại trường này do Bộ Cựu Chiến Binh quản lý chứ không phải Bộ Quốc Gia Giáo Dục, nhưng vẫn dùng giáo trình của Bộ Quốc Gia Giáo Dục.
Chủ đích của các trường Quốc gia nghĩa tử là giáo dục phổ thông và hướng nghiệp cho các học sinh chứ không được huấn luyện quân sự. Vì vậy trường Quốc Gia Nghĩa Tử khác trường Thiếu Sinh Quân. Sau năm 1975, các trường quốc gia nghĩa tử cũng bị giải thể.

Giáo dục đại học:



Học sinh đậu được Tú Tài II thì có thể ghi danh vào học ở một trong các viện Đại Học, trường Đại Học, và học viện trong nước. Tuy nhiên vì số chỗ trong một số trường rất có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là Y, Dược, Nha, Kỹ Thuật, Quốc gia hành chánh và Sư Phạm.
Việc tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh, hoàn toàn không xét đến lý lịch gia đình. Sinh viên học trong các cơ sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền. Chỉ ở một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới đóng lệ phí thi vào cuối năm học. Ngoài ra, chính phủ còn có những chương trình học bổng cho sinh viên.



Trong khuôn viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh

Số liệu giáo dục bậc đại học:



Niên Học Số Sinh Viên
1960-1961 11.708 [48]
1962 16.835 [10]
1964 20.834 [10]
1974-1975 166.475 [46]
Chương trình học trong các cơ sở giáo dục đại học được chia làm ba cấp. Cấp 1 [học 4 năm]: Nếu theo hướng các ngành nhân văn, khoa học, v.v.. thì lấy bằng Cử Nhân [ví dụ: cử nhân Triết, cử nhân Toán…]; nếu theo hướng các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng Tốt nghiệp [ví dụ: bằng tốt nghiệp Trường Đại Học Sư Phạm, bằng tốt nghiệp Học viện Quốc Gia Hành Chánh…]hay bằng Kỹ Sư [ví dụ: Kỹ Sư Điện, kỹ Sư Canh nông…] Cấp 2: học thêm 1-2 năm và thi lấy bằng Cao Học hay Tiến Sĩ đệ tam cấp [Tiếng Pháp: Docteurde Troisième Cycle; tương đương Thạc sĩ ngày nay.] Cấp 3: học thêm 2-3 năm và làm luận án thì lấy bằng Tiến Sĩ [tương đương với bằng Ph.D. của Hoa Kỳ.]
Riêng ngành Y, vì phải có thời gian thực tập ở bệnh viện nên sau khi học xong chương trình dự bị y khoa phải học thêm 6 năm, hay lâu hơn mới xong chương trình đại học.

Bổ sung của độc giả Trần Thạnh (26.12.2013)

Việt Nam Cộng có nhiều trí thức tốt nghiệp từ Pháp và Hoa Kỳ nên có hai hệ thống bằng cấp khác nhau:



Thạc Sĩ người Việt đầu tiên là ông Phạm Duy Khiêm, bào huynh của nhạc sĩ Phạm Duy. Ecole Normale Supérieure.
Ðánh dấu hoa* là ôngPhạm Duy Khiêm. Ðánh dấu X là Tổng Thống Pháp Georges PompidouTheo hệ thống của Pháp (ngày trước)

- Cử Nhân [Licencié], Cao Học [DEA], Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp [Doctorat de 3è cycle], Tiến Sĩ Quốc Gia [Doctorat d’État.]
Theo hệ thống của Hoa Kỳ
- Cử Nhân [Bachelor], Master [trước 1975 chưa có từ ngữ dịch chính xác bằng cấp này], Tiến Sĩ [PhD].
Khó có thể so sánh Master và Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp vì học trình hai bên khác nhau. [Hiện nay trong nước dịch Master là Thạc Sĩ gây hiểu lầm cho nhiều người.]
Từ "Thạc Sĩ " trước đây được dùng để chỉ những người thi đậu một kỳ thi rất khó của Pháp [Agrégation.] Người thi đậu được gọi là Agrégé. Không có từ tiếng Anh tương đương cho từ này.



Đại Học Luật Khoa Sài Gòn

Mô hình các cơ sở giáo dục đại học

Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thời Việt Nam Cộng Hòa được tổ chức theo mô hình Viện Đại Học (theo Việt-Nam Tự-Điển của Hội khai trí Đức Tiến: Viện = Nơi, sở).
Đây là mô hình tương tự như university của Hoa Kỳ và Tây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ [Tiếng Anh: Credit]. Mỗi viện đại học bao gồm nhiều Phân khoa đại học [Tiếng Anh: Faculty; thường gọi tắt là phân khoa, ví dụ: Phân Khoa Y, Phân Khoa Sư Phạm, Phân Khoa Khoa Học, v.v…] hoặc Trường hay Trường Đại học [Tiếng Anh: School hay College; ví dụ: Trường Đại Học Nông Nghiệp, Trường Đại Học Kỹ Thuật, v.v…].
Trong mỗi Phân Khoa Đại Học hay Trường Đại Học có các ngành [ví dụ: ngành Điện Tử, ngành Công Chánh, v.v…]; về mặt tổ chức, mỗi ngành tương ứng với một ban [Tiếng Anh: Department; tương đương với đơn vị khoa hiện nay.]



Trường Đại học Giáo Dục: Tiền thân là Trung Tâm Huấn Luyện Sư Phạm Kỹ thuậtVề mặt tổ chức, viện đại học của Việt Nam Cộng Hòa duy trì đường lối phi chính trị của các đại học Tây Phương. Các khoa trưởng của các trường phân khoa không do Bộ Quốc gia Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên.
Trong hai thập niên 1960 và 1970, lúc hội nghị Hòa Bình đang diễn ra ở Paris, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ráo riết lên kế hoạch tái thiết sau chiến tranh, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập, người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòa nhập vào xã hội. Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thực tiễn được hình thành, đó là trường đại học cộng đồng và viện đại học bách khoa.
Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đại học sơ cấp và đa ngành; sinh viên học ở đây để chuyển tiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiến thức, hoặc học nghề để ra làm việc.
Các trường đại học cộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp, xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặt văn hóa, xã hội, và kinh tế. Khởi điểm của mô hình giáo dục này là một nghiên cứu của ông Đỗ Bá Khê tiến hành vào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào một luận án tiến sĩ trình ở Viện Đại học Southern California vào năm 1970 với tựa đề The Community College Concept: A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam [Khái niệm trường đại học cộng đồng:Nghiên cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến ở Việt Nam].
Cơ sở đầu tiên được hình thành là Trường Đại Học Cộng Đồng Tiền Giang, thành lập vào năm 1971 ở Định Tường sau khi mô hình giáo dục mới này được mang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng.



div>

Trường Đại Học Giáo Dục: Tiền thân là Trung tâm Huấn luyện Sư phạm Kỹ thuậtVào năm 1973, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức (tên tiếng Anh: Thủ Đức Polytechnic University, gọi tắt là Thủ Đức Poly) được thành lập. Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn. Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về Nông Nghiệp, Kỹ Thuật, Giáo Dục, Khoa Học và Nhân Văn, Kinh tế và Quản trị, và Thiết kế đô thị; ngoài ra còn có trường đào tạo sau đại học.
Theo kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều được gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi hứng cho trí thức suy luận, với một cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí.



Trường Sư Phạm, thuộc Viện Đại Học Sài GònSau năm 1975, dưới chính thể Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học thời Việt Nam Cộng hòa bị đổi tên và bị phân tán theo khuôn mẫu giáo dục của Liên Xô nên không còn mô hình theo đó các trường hay phân khoa đại học cấu thành viện đại học, mà mỗi trường trở nên biệt lập.
Giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo mô hình phân tán ngành học. Các "trường đại học bách khoa" được thành lập dưới hai chính thể này ( Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, Trường Đại Học Bách Khoa TPHCM, và Trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng) không giống như mô hình viện đại học bách khoa vì chỉ tập trung vào các ngành kỹ thuật tương tự, mô hình "trường đại học tổng hợp" (Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, Trường Đại Học Tổng Hợp TPHCM và Trường Đại Học Tổng Hợp Huế) cũng chỉ tập trung vào các ngành khoa học cơ bản, chứ không mang tính chất toàn diện.
Đến đầu thập niên 1990, chính phủ Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập 2 "đại học" cấp quốc gia và 3 "đại học" cấp vùng theo mô hình gần giống như mô hình viện đại học. Vào tháng 10 năm 2009, một số đại biểu của Quốc Hội Nước CHXHCN Việt Nam đưa ra đề nghị gọi tên các "đại học" cấp quốc gia và cấp vùng là "viện đại học."
Các viện đại học công lập:

Viện Đại Học Sài Gòn.

Tiền thân là Viện Đại Học Đông Dương (1906), rồi Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam (1955)– còn có tên là Viện Đại Học Quốc Gia Sài Gòn. Năm 1957, Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam đổi tên thành Viện Đại Học Sài Gòn. Đây là viện đại học lớn nhất nước. Trước năm 1964, Tiếng Việt lẫn Tiếng Pháp được dùng để giảng dạy ở bậc đại học, nhưng sau đó thì chỉ dùng tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm 1955. Riêng Trường Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh.
Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện Đại Học Sài Gòn.

Viện Đại Học Huế.

Thành lập vào tháng 3 năm 1957 với 5 phân khoa đại học: Khoa Học, Luật, Sư Phạm, Văn Khoa, và Y Khoa.



Hàng đầu bên trái: Ông Nguyễn Đăng Trình Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Viện Trưởng Viện Đại Học Huế đầu tiên [tháng 3/1957-7/1957 ].Ở giữa: Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm. Bên Phải: Linh Mục Giáo sư Cao Văn Luận, Viện trưởng Viện Đại học Huế từ 7/1957-1965.

Viện Đại Học Cần Thơ.

Thành lập năm 1966 với 4 phân khoa đại học: Khoa Học, Luật Khoa & Khoa Học Xã Hội, Sư Phạm, và Văn Khoa.

Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức.

Thành lập năm 1974. Tiền thân là Trung Tâm Quốc gia Kỹ Thuật (1957), Học Viện Quốc gia Kỹ Thuật (1972).

Các viện đại học tư thục:

Viện Đại Học Đà Lạt.

Thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1957. Một phần cơ sở của Viện Đại Học Đà Lạt nguyên là một chủng viện của Giáo Hội Công Giáo. Viện đại học này có 4 phân khoa đại học: Chính Trị Kinh Doanh, Khoa Học, Sư Phạm, Thần Học và Văn Khoa. Theo ước tính, từ năm 1957 đến 1975 viện đại học này đã giáo dục 26.551 người.



Viện Đại Học Đà Lạt

Viện Đại Học Vạn Hạnh.

Thuộc khối Ấn Quang của Giáo Hội Phật Giáo hội Việt Nam Thống Nhất; thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê Văn Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân khoa đại học: Giáo Dục, Phật Học, Khoa Học Xã Hội, Khoa Học Ứng Dụng, và Văn Học & Khoa Học Nhân văn. Vào đầu thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinh viên.



Lễ phát bằng Cử Nhân của Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1973

Viện Đại Học Phương Nam.

Được cấp giấy phép năm 1967 tọa lạc ở số 16 đường Trần Quốc Toản (sau năm 1975 là đường 3/2 ), quận 10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc khối Việt Nam Quốc Tự của Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo sư Lê Kim Ngân làm viện trưởng.
Viện Đại học Phương Nam có 3 phân khoa đại học: Kinh Tế-Thương Mại, Ngoại Ngữ, và Văn Khoa. Vào thập niên 1970, viện đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh.



Thư viện Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn

Viện Đại Học An Giang [Hòa Hảo].

Thành lập năm 1970 ở Long Xuyên với 5 phân khoa đại học: Văn Khoa, Thương Mại-Ngân Hàng, Bang Giao Quốc Tế, Khoa Học Quản Trị và Sư Phạm. Viện Đại Học này trực thuộc Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo.

Viện Đại Học Cao Đài.

Thành lập năm 1971 trên đường Ca Bảo Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại học: Thần Học Cao Đài, Nông Lâm Mục, và Sư Phạm. Viện Đại Học này trực thuộc Giáo Hội Cao Đài.

Viện Đại Học Minh Đức.

Được cấp giấy phép năm 1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học: Kỹ Thuật Canh Nông, Khoa Học Kỹ Thuật, Kinh Tế Thương Mại, Nhân Văn Nghệ Thuật, và Y Khoa. Viện Đại học này do Giáo Hội Công Giáo điều hành.

Các học viện và viện nghiên cứu




Viện Pasteur Nha Trang

Học Viện Quốc Gia Hành Chính.

Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản [gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3/2], Quận10, Sài Gòn.
Học viện này trực thuộc Phủ Thủ Tướng hay Phủ Tổng Thống, đến năm 1973 thì thuộc Phủ Tổng Ủy Công Vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự.

Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp.

(1972-1974) Tiền thân là Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung Tâm Quốc gia Nông Nghiệp (1968-1972) rồi nhập vào Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức năm 1974.
Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một số cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Đà Lạt, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải Dương học Nha Trang, Viện Nguyên Tử Lực Đà Lạt, Viện Khảo Cổ v.v… với những chuyên môn đặc biệt.


Các trường đại học cộng đồng

Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như Trường Đại Học Cộng Đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho, Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long.
Trường Đại Học Cộng Đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại Học Cộng Đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán.
Ở Sài Gòn có Trường Đại Học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công Giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.

Các trường kỹ thuật và huấn nghệ




y

Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ ThuậtNgoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao đẳng như Trường Bách Khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm Súc. Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên tương đương với cấp đại học.

Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục

: Thoạt tiên là Nha Khảo Cứu Đông Dương thành lập năm 1930 ở B’lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc Gia Nông lâm mục với chương trình học bốn năm. Diện tích vườn thực nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc,vườn cây công nghiệp, lúa thóc. Qua từng giai đoạn, trường đổi tên thành Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp (1968-1972), Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972-1974). Cuối cùng Trường Quốc Gia Nông lâm Mục được sáp nhập vào Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức ( có trụ sở ở số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương.



Trường Cao Đẳng Điện Học

Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ.

Thành lập năm 1957 thời Đệ Nhất Cộng Hoà gồm bốn trường: Trường Cao Đẳng Công Chánh, Trường Cao Đẳng Điện Học, Trường Quốc Gia Kỹ Sư Công Nghệ, và Trường Việt Nam Hàng Hải. Năm 1968 lập thêm Trường Cao Đẳng Hóa Học. Năm 1972, Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật đổi thành Học Viện Quốc Gia Kỹ Thuật và đến năm 1974 thì nhập với Trường Đại Học Nông Nghiệp để tạo nên Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức

Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia.

Thành lập năm 1966 để đào tạo nhân viên giữ an ninh và thi hành luật pháp.



Khóa 2 Cảnh Sát Quốc Gia

Các trường nghệ thuật.

Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ: Thành lập ngày 12 tháng 4 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Chương trình học sau được bổ túc để bao gồm các bộ môn âm nhạc cổ điển Tây Phương và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ.



Các giáo sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ đồng tấu: Trần Thanh Tâm [đờn kìm], Phan Văn Nghị [đờn cò], Trương Văn Đệ [đờn tam], Vũ Văn Hòa [sáo] và Nguyễn Vĩnh Bảo [đờn tranh].

Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế.

Thành lập năm 1962 ở cố đô Huế chủ yếu dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam,dùng nhà hát Duyệt Thị Đường trong Kinh Thành Huế làm nơi giảng dạy.

Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật

: Thành lập năm 1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định [tiền thân là Trường Mỹ Nghệ Gia Định, thành lập năm 1940.]



Buổi học hình họa tại lớp dự bị của trường Quốc gia Mỹ thuật Sài Gòn đầu thập niên 60

Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn

: Thành lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo hình với các chương trình học 3 và 7 năm. Vị giám đốc đầu tiên là họa sĩ Lê Văn Đệ [1954-1966.]

Sinh viên du học ngoại quốc

Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.

TÀI LIỆU VÀ DỤNG CỤ GIÁO KHOA




Trang trong sách Địa Lý Lớp BaTruyện Kiều bản chữ Nôm của Chiêm Vân Thị do Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa xuất bản năm 1967
Năm 1958, chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa cho lập Ban Tu Thư thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục để soạn, dịch, và in sách giáo khoa cho hệ thống giáo dục toàn quốc. Tính đến năm 1962, Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã ấn hành xong 39 đầu sách tiểu học, 83 sách trung học, và 9 sách đại học.[82]



Trang bìa sách Địa Lý Lớp Ba
Các giáo chức và họa sĩ làm việc trong Ban Tu Thư đã soạn thảo trọn bộ sách cho bậc tiểu học. Bộ sách này được đánh giá cao cả về nội dung lẫn hình thức. Có nhiều sách đã được viết, dịch, và phát hành để học sinh và sinh viên có tài liệu tham khảo.
Phần lớn sách giáo khoa và trang thiết bị dụng cụ học tập do Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục sản xuất và cung cấp, với sự giúp đỡ của một số cơ quan nước ngoài. Trung tâm này còn hợp tác với UNESCO để viết và dịch sách dành cho thiếu nhi để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế giới. Bộ Giáo Dục cũng dành riêng ngân quỹ để in sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc thiểu số khác nhau ở Việt Nam.


Ngoài ra, để có sự thống nhất trong việc sử dụng các danh từ chuyên môn, Bộ Giáo Dục cũng đã thiết lập Ủy Ban Quốc Gia Soạn Thảo Danh Từ Chuyên Môn, bao gồm nhiều giáo sư đại học. Ủy ban đã soạn thảo và, thông qua Trung Tâm Học Liệu, ấn hành những tập đầu tiên trong lĩnh vực văn học và khoa học.[83] Trong những dự án đó Bộ cho in lại nguyên bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm.

NHÀ GIÁO

Đào tạo giáo chức




Trường ĐH Sư Phạm thuộc Viện Đại Học Huế.
Tòa nhà này thời Pháp là Khách Sạn Morin Frères
Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn (thành lập vào năm 1957) là cơ sở sư phạm đầu tiên, bắt đầu khai giảng năm 1958.[84] Sau có thêm các trường Cao đẳng Sư phạm ở Ban Mê Thuột, Huế, Vĩnh Long, Long An, và Quy Nhơn, Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên.

Ngoài ra còn có Trường Đại Học Sư Phạm Huế thuộc Viện Đại Học Huế và Trường Đại Học Sư Phạm Đà Lạt thuộc Viện Đại Học Đà Lạt.
Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi là chương trình sư phạm cấp tốc. Chương trình này nhận những ai đã đậu được bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp. Hằng năm chương trình này đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học.
Giáo viên trung học thì phải theo học chương trình của trường đại học sư phạm [2 hoặc 4 năm]. Sinh viên các trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho nhà nước ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp.



Đội ngũ giáo sư trẻ nhiệt tình vừa tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài GònNha Sư Phạm (thuộc Bộ Văn Hóa, Giáo Dục và Thanh Niên) và các trường sư phạm thường xuyên tổ chức các chương trình tu nghiệp và các buổi hội thảo giáo dục để giáo chức có dịp học hỏi và phát triển nghề nghiệp. Bộ Văn Hóa, Giáo Dục và Thanh Niên cũng gởi nhiều giáo chức đi tu nghiệp ở các nước như Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Nhật, Đức, v.v…
Đối với giáo sư đại học thì đa số xuất thân từ Viện Đại Học Đông Dương ở Hà Nội từ trước năm 1954. Số khác được đào tạo ở Pháp, Đức và Mỹ. Vào năm 1970 tổng cộng có 941 giáo sư giảng dạy ở các trường đại học của Việt Nam Cộng Hòa.



Lễ khai giảng Trường Đại Học Quốc Gia Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1945, khóa đầu tiên dưới chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

Đời sống và tinh thần giáo chức

Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470.
Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thành phố thời Đệ Nhất Cộng Hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người giúp việc trong nhà.
Sang thời Đệ Nhị Cộng Hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn và Đà Nẵng. Tuy vậy, lúc nào các nhà giáo cũng giữ vững tinh thần và tư cách của nhà mô phạm [người mẫu mực, người đóng vai trò hình mẫu], từ cách ăn mặc thật đứng đắn đến cách ăn nói, giao tiếp với phụ huynh và học sinh, và với cả giới chức chính quyền địa phương.

Một nữ giáo sư trẻ vừa tốt nghiệp trường Đại Học Sư Phạm.

THI CỬ VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP




Chứng chỉ Tú Tài I Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công Dân, Sử, Địa trong các kỳ thi Tú Tài I và Tú Tài II từ niên khóa 1965-1966. Đến năm 1974, toàn bộ các môn thi trong kỳ thi tú tài gồm toàn những câu trắc nghiệm. Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều phải đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1.800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời của học sinh để tính độ khó của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu hỏi trắc nghiệm cho thích hợp



Chứng chỉ Tú tài II

Chứng chỉ Tú Tài II

Đầu những năm 1970, Nha Khảo Thí của Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết. Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển v.v… Nhóm mẫu [sample] và nhóm định chuẩn [norm group] được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp của khoa học thống kê để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn.

Một số nhà lãnh đạo giáo dục tiêu biểu

Trong suốt thời gian 20 năm tồn tại, các vị tổng trưởng [tức bộ trưởng] và thứ trưởng giáo dục của Việt Nam Cộng hòa đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam. Sau đây là vài nhà lãnh đạo tiêu biểu:



Ông Phan Huy Quát*. Phan Huy Quát. Sinh năm 1911, mất năm 1979; Tổng Trưởng Giáo Dục Quốc Gia Việt Nam 1949. Ông mất trong tù cải tạo dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
*. Nguyễn Thành Giung: Sinh năm 1894 tại Sa Đéc; Tiến Sĩ Vạn Vật Học ] Viện Đại học Khoa Học Marseille]; Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục 1952-1953 thời Quốc Gia Việt Nam, kiêm Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Hà Nội.
*. Trần Hữu Thế: Sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất năm 1995 tại Pháp; tiến sĩ khoa học [1952], từng dạy học ở Lyon [Pháp] và làm giáo sư ở Trường Đại Học Khoa Học thuộc Viện Đại Học Sài Gòn; từ 1958 đến 1960 làm Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục; từng làm Đại Sứ của Việt Nam Cộng Hòa tại Philippines. Dưới thời Bộ Trưởng Trần Hữu Thế, số lượng học sinh, sinh viên gia tăng nhanh chóng, và nhiều cải tiến trong giáo dục đã được thực hiện. Cùng thời kỳ này, Đại Hội Giáo Dục Quốc Gia (lần I) được tổ chức ở Sài Gòn vào năm 1958, chính thức hóa ba nguyên tắc nhân bản, dân tộc, và khai phóng làm nền tảng cho triết lý giáo dục Việt Nam Cộng Hòa.
*. Nguyễn Văn Trường: sinh năm 1930 tại Vĩnh Long; giáo sư tại Viện Đại Học Huế; hai lần đảm trách chức vụ Tổng Trưởng Giáo Dục thời kỳ chuyển tiếp giữa Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng hòa. Ông là người tích cực vận động và đóng góp vào sự ra đời của Viện Đại Học Cần Thơ vào năm 1966.
*. Trần Ngọc Ninh: Sinh năm 1923 tại Hà Nội; bác sĩ giải phẫu và giáo sư Trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn, giáo sư Văn Minh Đại Cương và Văn Hóa Việt Nam tại Viện Đại Học Vạn Hạnh; Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Giáo Dục thời kỳ chuyển tiếp giữa Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa.[98]
*. Lê Minh Trí: bác sĩ y khoa tai-mũi-họng, giáo sư Trường Đại Học Y khoa Sài Gòn, làm Tổng Trưởng Giáo Dục bị ám sát bằng lựu đạn năm 1969.[100]
*. Nguyễn Lưu Viên: Sinh năm 1919; bác sĩ, từng làm việc tại Trường Đại Học Y khoa Sài Gòn, Bệnh Viện Chợ Rẫy, và Viện Pasteur Sài Gòn; từ 1969 đến 1971 làm Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Giáo Dục rồ, Phó Thủ Tướng kiêm Trưởng Phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa ở Hội Nghị La Celle Saint Cloud trong chính phủ Trần Thiện Khiêm.
*. Ngô Khắc Tĩnh: Sinh năm 1922 tại Phan Rang, mất năm 2005 tại Hoa Kỳ; dược sĩ (tốt nghiệp ở Pháp); từ năm 1971 đến 1975 làm Tổng Trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục, và Thanh Niên; từ năm 1975 đến 1988 bị tù cải tạo dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
*. Đỗ Bá Khê: Sinh năm 1922 tại Mỹ Tho, mất năm 2005 tại Hoa Kỳ; tiến sĩ giáo dục (Viện Đại Học Southern California); Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục, và Thanh Niên thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Ông là người đã thiết lập hệ thống các trường đại học cộng đồng ở Miền Nam Việt Nam và được xem là "cha đẻ của các trường đại học cộng đồng Việt Nam." Ông còn thiết lập Viện Đại Học Bách khoa Thủ Đức vào năm 1974, dựa theo mô hình của các viện đại học bách khoa ở California (Hoa Kỳ), và làm việc với vai trò viện trưởng sáng lập của viện đại học này.
*. Nguyễn Thanh Liêm: Sinh năm 1934 tại Mỹ Tho; tiến sĩ giáo dục (Viện Đại Học Iowa State, Hoa Kỳ); Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục, và Thanh Niên thời Đệ Nhị Cộng Hòa.
*. Các Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục: Vương Quang Nhường, Nguyễn Dương Đôn, Nguyễn Quang Trình

ĐÁNH GIÁ



Học bạ của một học sinh giỏi nhất lớp năm 1950
Về học bạ trên, Giáo sư Dương Thiệu Tống, trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức đánh giá như sau:
"Điểm nhận xét đầu tiên của tôi là điểm số các môn học ngày xưa sao lại thấp đến thế, ngay cả đối với học sinh đứng nhất lớp như các thí dụ trên đây.

Vậy phải chăng các thầy giáo chúng tôi ngày xưa không bị áp lực bởi thi đua đạt thành tích nên có thể cho điểm trung thực hơn? Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay là học sinh ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành các câu hỏi này cho các đồng nghiệp và các trường học của chúng ta suy ngẫm và tìm giải đáp."
[ Trích từ nguồn Blog Lý Toét]
Từ ngày 7 đến ngày 28 tháng 6 năm 1975 [tức là sáu tuần sau sự kiện ngày 30 tháng 4], Arthur W. Galston, giáo sư sinh học ở Viện Đại học Yale, viếng thăm miền Bắc Việt Nam [lúc đó vẫn là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]. Theo tường trình của Galston cho tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 thì một trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo miền Bắc bận tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với miền Nam. Theo tạp chí Science thì "Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập niên. Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston nhận thấy các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi nổi vào lúc đó thực sự diễn ra."
Theo Galston, các nhà lãnh đạo miền Bắc, cụ thể được nhắc đến trong bài là Nguyễn Văn Hiệu (Viện Trưởng Viện Khoa Học Việt Nam) và Phạm Văn Đồng [Thủ Tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa], đặc biệt quan tâm đến hệ thống giáo dục nhấn mạnh đến các ngành kỹ thuật và điện tử cùng hệ thống các trường đại học cộng đồng hệ hai năm đã được thiết lập ở miền Nam (nguyên văn tiếng Anh: "the widespread educational emphasis on engineering and electronics and the system of two-year, community colleges").[104]
Lời chứng và đánh giá của ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại Học Đà Lạt,[105] nguyên Phó Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Đà Lạt dưới chính thể Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam:
"Tôi là con của một cán bộ Việt Minh – tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc [...] Chế độ Việt Nam Cộng Hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục "xã hội chủ nghĩa" (1975-1989), tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi. Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng…"[106]
Đánh giá của nhà phê bình văn học Thụy Khuê:
"Có thể nói, trong suốt thời gian chia đôi đất nước, mặc dù với những tệ nạn của xã hội chiến tranh, tham nhũng; miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục đứng đắn. Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và văn học đều được giảng dậy đầy đủ, không thiên hướng. Ở bậc trung học học sinh gặt hái những kiến thức đại cương về sử, về văn, và tới trình độ tú tài, thu thập những khái niệm đầu tiên về triết học. Lên đại học, sinh viên văn khoa có dịp học hỏi và đào sâu thêm về những trào lưu tư tưởng Đông Tây, đồng thời đọc và hiểu được văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật đáng tin cậy, dịch được những sách cơ bản. Nguyễn Văn Trung trong hồi ký đã nhấn mạnh đến sự tự trị của đại học, nhờ sự tự trị này mà các giáo sư có quyền giảng dạy tự do, không bị áp lực chính trị của chính quyền. Chính điều kiện giáo dục này, đã cho phép miền Nam xây dựng được một tầng lớp trí thức, một tầng lớp văn nghệ sĩ và một quần chúng độc giả; giúp cho nhiều nhà văn có thể sống bằng nghề nghiệp của mình. Và cũng chính tầng lớp trí thức và sinh viên này đã là đối trọng, chống lại chính quyền, khi có những biến cố chính trị lớn như việc đàn áp Phật Giáo thời ông Diệm và việc đấu tranh chống tham nhũng (như vụ báo Sóng Thần) thời ông Thiệu."[107]
Huỳnh Minh Tú
[Biên tập và thêm hình ảnh sưu tầm từ Internet]
[Nguồn: Wikipedia, FB Tuyen Nguyen]


Phần dưới đây là những ý kiến góp thêm của người đọc, tôi xin chép về để mọi người có thể hình dung thêm sự giáo dục thời ấy, ước chi ai ở miền Bắc thời ấy cũng viết một bài về sự giáo dục cùng thời để chúng ta có thể so sánh hai nền giáo dục.  Ở đâu đã tạo nên những thế hệ ngày nay tốt hay xấu.  Riêng tôi nhìn hình ông Phan Huy Quát, một gương mặt toát ra tất cả những tinh anh của thế hệ ông, vậy mà ông đã mất trong nhà tù của chính quyền hiện tại, một chính quyền đã huỷ đi biết bao nhiêu tài hoa tinh anh của một nền giáo dục của miền Nam.  

Ý kiến :

PCT
Là một người được giáo dục hoàn toàn bởi thể chế cộng sản, tôi đã mất nhiều chục năm để tự tìm lại những phẩm chất nhân bản, dân tộc và khai phóng mà chúng tôi không được hưởng bởi phải chịu nhồi sọ trong nền giáo dục cộng sản.
Tôi nhớ cuối năm 1975, là một sinh viên Bach Khoa HN "XHCN", tôi cùng gia đình theo cha về Nam (cha tôi tập kết), tôi được gặp và sống cùng các anh chị em họ bên nội cũng là sinh viên Sài Gòn năm đó (luật, văn và y khoa...) - chỉ khác tôi là vì "giải phóng" mà họ bị thất học luôn. Và chỉ sau mấy tuần tiếp xúc tôi đã bị "sốc thầm" vì tự thấy mình kém thua họ toàn diện về sự lễ phép và cư xử (nhân bản), về văn hóa và phong cách sống giản dị (dân tộc), về kiến thức thời đại và tủ sách phong phú hấp dẫn (khai phóng)... Họ hoàn toàn không phải sản phẩm của nền giáo dục "phản động và lai căng" như tôi được nhồi sọ từ trước...
Họ được thụ hưởng nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa...
Ngày tôi ra bến xe liên vận để ra HN chuẩn bị đi du học, tôi đã sững sờ gặp chị họ mình - cô sinh viên văn khoa SG bị cộng sản cho thất học - tươi cười đi đến chào tiễn tôi ra bắc, bên hông chị là rổ bánh bột lọc đầy mà chị đang đi bán ở bến xe đó phụ giúp cô Hai tôi chạy bữa cho cả nhà từ ngày SG bị "giải phóng"...
May mà tôi xin được mấy cuốn sách "độc hại" của các anh chị mình ở SG năm ấy để đọc ở trời Âu vẫn "XHCN"...
Cảm ơn nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa đã cho tôi những người anh chị em họ tuyệt vời, mà nói thật, tôi yêu quí hơn một số anh chị em ruột của mình.
PCT

Nguyễn Ngọc Già

Trang phục đi học:
- Tiểu học: nam áo trắng, quần short xanh đậm, nữ áo trắng jupe xanh đậm. Chỉ phải mua mỗi cái phù hiệu của trường. Ngoài ra không mua đồng phục gì cả, theo kiểu bây giờ vẽ đủ thứ chuyện để moi tiền phụ huynh.
- Trung học: nam phải mặc quần tây dài, nữ phải mặc áo dài (hình như có trường vẫn cho mặc jupe đến hết trung học đệ nhất cấp?), nhưng lên đệ tam phải mặc áo dài, không cho mặc jupe nữa.
- Sách: tiểu học đều được phát miễn phí, nhưng phải giữ cẩn thận, cuối năm trả cho nhà trường, ai làm mất thì phải đền. Cũ thì không sao, nhưng không được để tả tơi rách rưới.
- Tập tiểu học: phải bao (cover) đồng màu cho mỗi môn học. Không được tùy tiện để giáo viên dễ kiểm soát và chấm bài.
Đặc biệt, tiểu học, mỗi đứa đi học đều phải để tập sách sao cho không bị quăn góc. Trở thành nếp. Đứa nào để tập quăn queo là dễ bị la, nếu gặp cô (thầy) nào nóng tính thì bị khẽ tay (nhưng không bao giờ quá nặng), chỉ khẽ cho chừa, mỗi bàn tay một cái, nhưng cách khẽ tay rất dứt khoát, đau và nhớ lắm. Tui cũng bị vài lần (hê hê hê!) vì cái tội ẩu tả và ham chơi, dục tập sách tùm lum :D
Tôi nhớ, nhất là môn văn, hồi đó đứa nào được điểm 8 là cả lớp tròn xoe mắt mà ngưỡng mộ (làm gì có điểm 10 như bây giờ, thấy ớn chè đậu!). Đứa đó được cô (thầy) xướng tên cuối cùng mỗi khi trả bài sau khi chấm xong. Đứa được điểm cao nhất trong kỳ đó, được vinh dự đứng trước cả lớp để đọc to cho cả lớp nghe bài văn hay của mình để mọi người cùng nghe và rút kinh nghiệm cho những lần làm bài sau.
Tiểu học: xếp hạng mỗi tháng. Từ cao nhất cho đến bét lớp. Từ hạng 1 đến hạng 3 thì được phát "bảng danh dự". Hạng nhất thì giấy màu đỏ, hạng nhì thì màu vàng, hạng ba màu xanh. Có lần tui được hạng 3 (chỉ 1 lần duy nhất trong đời tiểu học) của tháng, khoái lắm và hãnh diện lắm, về khoe ông già, ông già luôn cho tiền thưởng (đủ ăn cà rem và mua xìtrum, lucky luke). Xếp hạng rất vô tư và khách quan, hổng có chuyện thầy cô thương đứa nào hơn đứa nào.
Đứa nào mà luôn đứng hạng 1 mà lần sau bị xuống hạng nhì hay ba là đau đớn vô cùng. Nhứt là mấy đứa con gái, khóc sụt sùi và cảm thấy tủi hổ lắm! Mấy thằng đực rựa, thì cứ đực mặt ra nhìn nó khóc:D hê hê hê!

-Nếu không lầm, cách gọi: đệ thất cho đến đệ nhất vẫn duy trì cho đến 1975.
- Thi trung học đệ nhất cấp: vẫn duy trì như thế. Lúc đó, tại SG, đúng là vào trung học đệ nhất cấp (trường công) vô cùng khó. Tỉ lệ đậu thường không quá 10% thí sinh. 2 trường (Petrus Ký và Gia Long) là 2 trường công nổi tiếng nhất SG dành cho Nam (Petrus Ký - tức L.H.Phong bây giờ) và nữ (Gia Long - tức N.T.M.Khai bây giờ)
Những ai đậu vào trường công lúc bấy giờ hầu hết là học trò giỏi thật, bởi không bao giờ có chuyện gởi gắm, con ông cháu cha. Nên mấy đứa bạn nhà nghèo thường thường coi đó là cuộc đổi đời cho bản thân và gia đình.
Những gia đình nào giàu có và thường phải là công chức, doanh gia rất nổi tiếng có liên hệ với giới chủ và quan chức nước ngoài thì mới hay cho con học trường tây. Còn hầu hết, vẫn học trường ta (dù giàu có cũng vậy). Không phải vì tiếc tiền, nhưng gần như phong trào du học thời trước 75, không quá nhiều người màng đến. Có lẽ không chỉ vì bấy giờ không có tư tưởng tị nạn (dù chính trị hay kinh tế) như sau này, mà còn vì chất lượng giữa trường công và tư chẳng khác gì nhau. Thậm chí, có một số trường tư còn nổi tiếng hơn (lâu quá không còn nhớ tên trường, hình như có 1 trường tư thục nổi tiếng là Nguyễn Bá Tòng?)
Chỉ khác, tư thì phải đóng tiền. Thiếu tiền thì phải có thời hạn, không dây dưa, nếu gia đình nào nghèo quá thì trường có thể miễn giảm một phần, nếu nghèo mà học giỏi trường miễn cho học phí, nhưng kỳ lục cá nguyệt nào thì miễn kỳ đó, không có kiểu miễn cả quá trình, vì nhà trường không để cho học trò ỷ lại.
Trước 1975 thi cử giữa năm gọi là: lục cá nguyệt. Cụ thể gọi là đệ nhất và đệ nhị lục cá nguyệt (nghĩa là bây giờ gọi học kỳ 1, học kỳ 2).
- Thi trung học đệ nhị cấp vẫn vậy (cho đến 1975): nghĩa là khi xong đệ tứ (lớp 9 bây giờ) phải thi vào trung học đệ nhị cấp, bắt đầu là đệ tam (tức lớp 10 bây giờ).
- Khác biệt giữa trung học đệ nhất và đệ nhi cấp là bắt đầu đệ tam, tất cả học trò đều phải học 2 sinh ngữ (lúc đó không gọi là ngoại ngữ như bây giờ) nếu chọn Anh là chính thì Pháp là phụ và ngược lại.
- Dù trung học đệ nhất hay đệ nhị cấp thì giáo trình (lúc đó hay gọi là "cua" (course) cũng đều chính gốc của Mỹ (tôi nhớ "cua" lúc đó thông thường các trường hay chọn là English for today thông dụng nhất).
Tuy nhiên cách dạy tiếng Anh thời đó chú trọng rất nhiều về văn phạm và câu cú, nên nghiêng về tính "kinh viện", thiếu tính thực dụng "mì ăn liền" như sau này. Tuy nhiên, cũng vì thế, những ai trao dồi kỹ thì vừa giỏi cả tiếng Việt, vừa giỏi cả tiếng Anh. Thông thường lúc đó, đã giỏi tiếng Anh thì rất khá Việt văn. Dịch rất trơn tru, không lóng ngóng. Vì để dịch thì phải giỏi cả 2 thứ tiếng.
Ngoài ra, đệ nhị phải thi tú tài (gọi là tú tài nhất), đệ nhất thi tú tài đôi (còn gọi là tú tài toàn phần hay nói tắt là tú tài toàn).
Tú tài toàn chia ra: Tối ưu, Ưu, Thứ, Bình Thứ, Bình. Lúc đó đạt Thứ là ngon lắm. Không mấy ai dám mong tới "Tối ưu". Chỉ những ai đạt Thứ trở lên mới hay nộp vô Y, Sư phạm v.v... Tuy nhiên, cũng có nhiêu người đạt Thứ lại thích vào Văn khoa, Luật (hai trường mà thời thượng nhiều người cũng chọn).
Có bài nhạc của Phạm Duy: "Trả Lại Em Yêu". http://www.youtube.com/watch?v=mNIDsW8K1Xs nói về trường Luật (đại học kinh tế bây giờ).
Bài "Chiều trên Phá Tam Giang" của Nhật Trường http://www.youtube.com/watch?v=jr-_2Gf43qY nói về tình yêu của nữ sinh viên và người lính.
Cùng nhiều nhạc phẩm khác. Rất hay và chan chứa ân tình từ trái tim của nhạc sĩ bấy giờ. NS sau này, không thấy nổi bài nào viết từ con tim của họ dành cho thời chiến, kể cả thời 1979, như Trấn Tiến cùng lắm chỉ có nổi bài "những đôi mắt mang hình viên đạn" được coi là nổi tiếng, nhưng rất khô, đầy hận thù và đau đớn, không thấy sự lãng mạn và tình yêu của người lính, dù là tình yêu dành cho dân tộc, chứ không nói đến kế hợp nhuần nhị giữa tình yêu dân tộc và tình yêu trai gái, hay cỡ như "Chiều Trên Phá Tam Giang".
Buồn quá!!!


Lương Ngọc Phát
Đọc bài chủ rồi còm của bác Già, tôi bồi hồi xúc động khi ký ức ùa về theo từng dòng gợi nhớ. Tuy nhiên, tôi thấy tg HMT chắc có lưu trữ tài liệu nên khá chính xác. Dù rất cảm động, song xin lỗi, tôi thấy có lẽ bác già chỉ dựa vào trí nhớ nên viết không được chính xác lắm.
Tôi vẫn còn giữ Thành Tích Biểu của 7 năm Trung Học thời VNCH, thì cách gọi Đệ Thất đến Đệ Nhất đã bãi bỏ từ niên khoá 1970-1971. Trong bài chủ có nhắc đến trường tôi, Trung Học Hồ Ngọc Cẩn - Gia Định. Trường di cư từ Nam Định vào Nam hồi 1954, vốn là một tư thục của Công Giáo và mang tên vị Giám Mục Hồ Ngọc Cẩn.Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa công lập hoá trường tôi. Là một trong số các trường nổi tiếng của SG - GĐ, hàng năm tuyển sinh vào lớp Đệ Thất (Sáu) lấy xấp xỉ 300 trên hơn 4000 thí sinh dự tuyển, tỉ lệ dưới 10%. Cũng hàng năm, tỉ lệ đậu Tú Tài xấp xỉ 90%, rất cao so với trung bình 40% của cả nước, ngang với Petrus-Ký - Chu Văn An - Gia Long - Võ Trường Toản - Trưng Vương - Lê Văn Duyệt...
Tôi vào trường Niên Khóa 68-69, lớp đệ thất, và học một mạch đến hết Niên Khóa 74-75 mà không phải thi Trung Học đệ nhất cấp và Tú Tài Một, như vậy bài chủ viết đúng thời điểm các quyết định thay đổi của Bộ Quốc Gia Giáo Dục.
Tối vẫn nhớ rất rõ, năm tôi học lớp Nhì bậc Tiểu Học, lần đầu tiên tôi biết chào cờ rủ. Thầy giáo giảng giải là để tang buồn ông Tổng Trưởng Giáo Dục vừa bị ám sát. Điều này khớp với tài liệu của bài chủ.
Bậc đệ nhất cấp học một sinh ngữ, Anh hoặc Pháp tuỳ nguyện vọng. Anh thì học English For Today từ Book One bìa màu vàng, Two màu xanh dương, Three màu xanh lá, Four màu đỏ...của nhà McGRAW HILL xuất bản. Pháp, thì học Cour de Languer của hội "Ngôn Ngữ và Văn minh Pháp".
Chữ Hán và các môn Hội Hoạ, Nhạc lý, Nữ công Gia chánh được học trong mấy năm đệ nhất cấp, nhằm nhiệm ý và phát giác năng khiếu để hướng nghiệp về sau mà không bỏ sót nhân tài.
Bắt đầu đệ nhị cấp (lớp 10), học thêm sinh ngữ 2. Có trường (như HNC nói trên)có dạy thêm sinh ngữ 3 không bắt buộc (Đức hoặc Nhật ngữ).
Thứ hạng đậu Tú Tài Hai thứ tự Tối Ưu-Ưu-Bình-BìnhThứ-Thứ. Hạng Thứ là kém nhất. Từ hạng Ưu trở lên được chính phủ cấp học bổng du học. Hạng Bình, nếu muốn thì phải tự túc. Các hạng dưới không đủ chuẩn du học, chỉ có thể học đại học quốc nội.
Đệ nhị cấp có 4 ban với sức nặng thiên về các ngành định hướng tương lai. Ban A (Vạn Vật-Hoá học). Ban B (khoa học thuần lý: Toán), Trường Võ Bị Đà Lạt chỉ tuyển Tú Tài ban B. Ban C (Quốc Văn-Sinh Ngữ). Ban D (Văn Chương-Cổ Ngữ như Hán hoặc Latinh), mục đích làm nền móng cho ssau này học các ngành nghiên cứu học thuật cổ của tổ tiên và của nhân loại.
Hiện nay, cựu HS các trường HNC, LVD, VTT, TV...đều có trang mạng làm nơi liên lạc đồng môn xưa trong và ngoài nước, rất cảm động. Bản thân tôi vẫn liên lạc với bạn bè và các vị thầy cô giáo cũ, kẻ còn người mất, kẻ còn quốc nội-người xa ngàn trùng, đều bạc phơ mái tóc phong trần qua biết mấy bể dâu thế cuộc.
Sàigon xưa, các trường công lập lớn, phẩm chất dạy và học thường cao hơn tư thục, một phần do có tuyển sinh gắt gao đầu vào vì cơ sở phòng ốc có hạn. Một phần do có chế độ ưu tiên chọn nhiệm sở của giáo sinh tốt nghiệp hạng giỏi từ các trường Sư Phạm. Điều này khuyền khích sinh viên Sư Phạm nỗ lực học hành và tận tuỵ với nghề. Ai đậu thấp phải chịu sự bổ nhiệm của Bộ Giáo Dục, theo khế ước, không được từ chối. Các tư thục danh giá như Hưng Đạo, Nguyễn Bá Tòng... cũng rất uy tín, nhờ vào kỷ cương của ban giám đốc vốn do các linh mục phụ trách, cùng sự tận tuỵ của ban giảng huấn.
Các giáo sư trung học uy tín ngày ấy, như thầy Bùi Hữu Đột, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Tá, Vũ Lai Chương, Phạm Thư, Bàng Bá Lân, Trương Toại, Xuân Tước, Thẩm Thệ Hà, Trần Trọng San, Nguyễn Chuyết.v.v... đều có soạn sách giáo khoa các môn học theo chương trình của Bộ Quốc Gia Giáo Dục, rất được các giáo sư chọn giảng dạy. Trong cùng một trường chứ chưa nói đến cả nước, tuỳ giáo sư đề nghị tư vấn và học sinh tự chọn lựa sách giáo khoa của soạn giả nào. Do vậy, không có chuyện tất cả cùng học sách của soạn giả duy nhất bắt buộc. Học sinh học sách này, nhưng vẫn tham khảo sách của soạn giả khác.
Ví dụ sách giáo khoa Toán của Đào Văn Dương và sách của Nguyễn Văn Phú-Nguyễn Tá, có nét sư phạm đặc sắc riêng, rất có ích cho học sinh
Sách Quốc Văn cũng vậy, mỗi soạn giả có cách tiếp cận chương trình của Bộ Quốc Gia Giáo Dục rất phong phú, mỗi người một vẻ. Bản thân tôi khi học Truyện Kiều, tìm bài giảng văn trong sách của Bàng Bá Lân, của Trần Trọng San, của Thẩm Thệ Hà...tha hồ lĩnh hội các ý nhận định đa chiều từ các bậc thầy thể hiện. Khi làm văn nghị luận, triết luận ...học sinh cứ vận dụng sức hiểu rộng hẹp cá nhân mà tự do trình bày, giáo sư càng khuyến khích. Không có chuyện học vẹt,làm bài vẹt!
Suốt 7 năm trung học, chưa bao giờ tôi thấy vị thầy nào mang theo sách Giáo Khoa khi vào lớp. Cũng không thấy các thầy phải soạn giáo án, nhưng họ dạy dỗ như thế nào mà tiếng thơm còn mãi tận ngày nay? Tôi cho rằng, các thầy đều vững vàng với giáo nghiệp của mình mà được như vậy!
Trao đổi với bác Già một chút hoài niệm, bác chắc thế hệ đàn anh học trước tôi, những môn sinh của nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Góp Nhặt

Blog Anh

Lưu trữ Blog