Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 5 tháng 5, 2023

Những người con H.O: Sức bật của một thế hệ

Ngọc Lan/Người Việt

Hình ảnh anh hai tôi đứng cạnh má, những ngón tay miết trên xấp vải áo mới toanh, mặt cúi xuống, giọng nghẹn đắng, “Ðể dành sang năm con thi lại, nếu đậu con sẽ may áo.” Má tôi ngồi, nước mắt vòng quanh, lặng lẽ, khóc.
Xấp vải là quà má dành dụm bao lâu để mua làm phần thưởng mừng anh vào đại học. Ngày anh đi nhận giấy báo điểm về. Má lấy xấp vải đưa cho anh, không cần hỏi kết quả. Giá mà lý lịch gia đình tôi không phải “đối tượng 13” thì anh đã dư nhiều lắm rồi, điểm đậu vào trường đại học y khoa.
Ngày đó, tôi còn là đứa bé chưa đến tuổi lên 10. Nhưng không hiểu sao khoảnh khắc tê lặng đó cứ ở mãi trong đầu tôi. Ám ảnh.
Tôi lớn thêm vài tuổi. Một bài báo nổi tiếng viết về anh học trò tên Huy, tôi quên mất họ anh rồi, quê ngoài miền Trung, anh thi đại học 3 lần, là 3 lần anh đậu thủ khoa, của 3 trường khác nhau. Và, cũng 3 lần, anh bị người ta từ chối cho anh đặt chân vào giảng đường đại học.
Lý do gì ư?
Anh là con của một sĩ quan chế độ cũ.
Tôi vẫn nhớ hoài câu anh nói trên báo Tuổi Trẻ ngày đó, “Không ai muốn được sinh ra dưới một ngôi sao xấu, và cũng không ai có quyền được chọn cửa để sinh ra. Tôi vào đời bằng những khát vọng lớn lao của tuổi trẻ, nhưng đời đã tặng tôi những cái tát nghiệt ngã nhất...”
Bài báo đó, câu nói đó, cũng không hiểu vì sao, ám ảnh tôi. Nặng trĩu.
Không biết có phải vì điều này, mà ngay khi được gợi ý, “hãy tìm hiểu và viết về những người con H.O, những người từng bị vùi dập, từng trải qua những nhọc nhằn, cay đắng khi còn ở Việt Nam. Nhưng khi sang miền đất này, họ như hạt mầm bị dồn nén bấy lâu, nay bật lên, vươn mình đứng dậy, biết khẳng định mình một cách trang trọng và đường hoàng,” tôi đã gật đầu không chút ngần ngại.
Bởi, tôi biết ngay rằng, mình làm được. Bởi, cảm xúc này, đã có sẵn trong tôi.

Lớn lên khi ba vào “tù cải tạo”

Tôi trò chuyện cùng ba người, một bác sĩ, một dược sĩ và một kỹ sư điện toán. Họ chẳng là những người nổi tiếng. Họ thuộc về số đông những người bình thường, giản dị mà ta gặp hằng ngày trong cuộc sống quanh đây.
Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
Nhưng, nhìn chặng đường họ đã qua, để có thể bây giờ đường hoàng là kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ, mới hiểu và khâm phục hơn những con người của một thế hệ, thế hệ vào đời ngay vào lúc khó khăn nhất của đất nước.
Họ là Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng, Dược Sĩ Ðoàn Trang Anh, và kỹ sư Lê Công Quý.
Giữa họ có một điểm chung, đó là ba của ai cũng mang hàm cấp tá, thiếu tá và đại tá. Và dĩ nhiên, ba ai cũng để lại một phần đời mình trong chốn “tù cải tạo,” người 5, 6 năm, người vừa chẵn 10 năm.
Ở thời điểm tháng 4 năm 1975, anh Hoàng được 16 tuổi, anh Quý 15, và chị Trang Anh lên 10. Ở độ tuổi này, cả ba người, như bao người dân khác ở Việt Nam, không phân biệt tuổi tác và giới tính, bị cuốn vào cơn sóng của thời lịch sử đổi thay.
“Ba đi tù, một mình mẹ tôi với năm con nhỏ, lớn nhất mới 11, nhỏ nhất chưa đầy năm. Không thể nào chăm sóc hết đàn con như vậy, nên chị tôi và hai đứa em nhỏ theo mẹ về sống bên ngoại, tôi cùng thằng em kế về với bà nội. 9 tuổi đầu, tôi đã biết chẻ củi, nấu cơm, tự chăm sóc mình.” Trang Anh, hiện đang là dược sĩ làm việc trong hệ thống Wal-Mart, nhớ lại.
Kỹ sư điện toán Lê Công Quý hồi tưởng, “Ngày Việt Cộng vô Ðà Nẵng, ba tôi đưa cả nhà chạy vô Sài Gòn ở trại gia binh. Khi ba đi tù, nhà cửa ngoài Ðà Nẵng bị tịch thu, thế là má tôi dắt díu anh em tôi chạy về quê ngoại ở Ðơn Dương, nơi cách Ðà Lạt chừng 58 cây số.”
“Ðói no gì cũng không được nghỉ học” là yêu cầu của má anh Quý đặt ra cho các con, nhưng một buổi đến trường, buổi còn lại anh Quý phải “đi làm cỏ, cắt lúa cho người ta”.
Với Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng, dù là con đại tá nhưng “số cực” dường như đeo đuổi anh từ nhỏ. Là anh trai cả, nên ngay khi ba anh vào “trại cải tạo,” cũng là lúc anh Hoàng “phải nhào ra phụ kiếm cơm” bằng cách “đẩy xe cóc ổi đi bán rong, ôm thùng thuốc lá ra đầu ngõ ngồi bán từng điếu”. Chưa hết, anh còn biết “quay roneo” các bài hát để bán cho bạn học cùng trường, lúc “nhà nước đổi tiền” anh cũng “bày đặt chạy áp phe, làm đủ thứ trên đời để có tiền mang về phụ mẹ.”
Nhọc nhằn và cơ cực, chưa bao giờ được ăn bát cơm trắng trọn vẹn, ngoại trừ khoai độn, sắn độn, mì độn, nhưng cố gắng đeo đuổi trường lớp, không dở dang chuyện học hành là điều cả ba người phải tâm niệm.
Tuy nhiên, tốt nghiệp lớp 12, cánh cửa để những người con sĩ quan này bước chân vào đại học cứ khi ẩn khi hiện như trò chơi cút bắt.

Ðường vào đại học gian nan

Chị Trang Anh kể, “Ðâu có bao giờ mình muốn dừng lại ở lớp 12 đâu. Nhưng khi mang giấy tờ lên phường ‘xác minh’ thì họ nói ba tôi là sĩ quan chế độ cũ, ‘chính quyền không bỏ tiền nuôi cho những thành phần như vậy’ nên họ không ký. Mà địa phương không ký thì làm sao thi đại học? Thế nên ngay cả cơ hội đi thi đại học tôi cũng không có.”
Anh Lê Công Quý may mắn hơn chị Trang Anh ở chỗ: Ít ra anh biết thế nào là thi đại học và cảm giác cầm được giấy báo đậu vào trường Ðại Học Kinh Tế Tài Chánh ở Sài Gòn là như thế nào.
Anh cứ ngỡ như mình trong mơ! Con ngụy mà cũng được vào đại học sao? Thầy chủ nhiệm dạy toán, người cũng có cha là “sĩ quan chế độ cũ,” cũng là người ‘bảo lãnh’ để anh Quý không bị “gửi qua công an” khi anh dám dùng phấn viết lên bảng chữ “Ðả đảo cộng sản,” đã dẫn đứa học trò mình lên tận ủy ban nhân dân tỉnh để hỏi cho chắc ăn có phải là Lê Công Quý được vào đại học?
Dược Sĩ Ðoàn Trang Anh. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
Nghe người ta khẳng định là chắc. Cậu học trò tỉnh lẻ mừng còn hơn được vàng, và có lẽ, lần đầu tiên trong đời cậu thầm cám ơn “Ðảng quang vinh biết xóa bỏ hận thù, cào bằng tất cả để cho đứa con ngụy như mình có cơ hội đổi đời.”
Anh Quý làm hồ sơ, giấy tờ, cắt hộ khẩu nơi quê nhà để khăn gói vào Sài Gòn chuẩn bị cuộc đời làm sinh viên.
Thế nhưng.
Thà như Trang Anh bị tước đi cơ hội thi đại học ngay từ lúc đầu.
Thà như người ta gửi giấy báo cho anh biết điểm anh cao nhưng vì anh là “đối tượng 13” nên anh không thể vào học.
Thà như...
Thà như...
Cứ 10, 20, thậm chí 50 cái thà như kiểu vậy từ lúc đầu thì Quý vẫn cảm thấy nhẹ lòng hơn.
Ðằng này...
Niềm vui háo hức của người thanh niên 18 tuổi bị dập tắt một cách không thương tiếc ngay khi bước chân vào phòng giáo vụ.
“Anh là đối tượng 13, không có tiêu chuẩn chính trị để học trường này. Anh đi về đi. Cái giấy này là do máy tính gửi sai thôi, chứ anh không đủ tiêu chuẩn học. Về đi.” Một thầy giáo nơi phòng giáo vụ trường Kinh tế tài chánh đã chẳng ngại ngần nói cho Quý biết.
Tiếng kêu “trời ơi” của người đàn ông nay đã ngoài 50 kể lại giây phút bị người ta “ném ra đường” cách đây hơn 30 năm mà nghe vẫn còn quặn thắt một nỗi đau.
“Trời ơi, cả cuộc đời sụp đổ dưới chân tôi. Tôi hụt hẫng dễ sợ. Bởi ở Việt Nam đứa học trò nào đang học 12 cũng nghĩ vô được đại học là cuộc đời mình mở ra tương lai tươi sáng, hy vọng đủ thứ hết. Giờ nghe họ nói vậy, tôi gần như điên luôn!”
Não nề. Chán nản. Suy sụp. Mất phương hướng. Quý gần như mất trí, lang thang khắp Sài Gòn, không dám quay về Ðơn Dương, “ăn làm sao, nói làm sao đây khi bạn bè, chòm xóm, gia đình đều nghĩ rằng mình vào Sài Gòn để đi học đại học?”
“Thực sự tôi không nhớ nhiều lắm lúc đó tôi như thế nào. Tôi chỉ biết mình lang thang khắp nơi. Hụt hẫng, đau khổ lắm. Lúc đó có ai đưa lựu đạn kêu tôi quăng tôi cũng dám. Tôi thấy cuộc đời mình coi như chấm dứt.” Anh Quý nói.
Một người bạn cùng quê với anh, cũng vào Sài Gòn học, nhìn thấy tình cảnh bi đát đó, đã “lén” báo về quê cho gia đình Quý hay. Má anh lặn lội vào Sài Gòn đón con về.
Có điều, trước khi mang đứa con tội nghiệp trở về Ðơn Dương, người mẹ uất ức tìm đến trường đại học để khiếu nại. Nhưng “một ông ở phòng tổ chức nói, mang 5 cây vàng vô đây thì tôi lo cho nó có chỗ học”. Má tôi không dằn được, “Nếu có 5 cây, tôi đã cho nó đi vượt biên rồi chứ đi học làm gì!”
Phẫn uất, vì phận mình là “ngụy”. Nhưng, vẫn phải về.
“Thấy tôi sốc, chán đời đến gần như tưng tửng luôn, nên má tôi quyết định gửi tôi vào chùa ở một thời gian tôi mới tỉnh lại bình thường.” Anh kể, giọng cười nghe buồn tênh.
Không giống Trang Anh và Quý, Nguyễn Trần Hoàng không thi đại học ngay sau khi tốt nghiệp 12.
“Tôi không thi bởi lúc đó tôi chưa biết mình muốn gì. Lúc nhỏ tôi mơ làm văn sĩ, lúc lớn hơn thì thích làm luật sư. Nhưng sau 75 thì thấy văn sĩ coi bộ không thực tế, còn luật thì khi đó làm gì có luật để mà làm luật sư, cho nên tôi cũng không thích luôn. Tôi đi làm những chuyện linh tinh khác.” Anh Hoàng cho biết.
4 năm sau, “sau một trận bệnh tưởng chừng mình sắp tận cùng phần số,” anh quyết định nộp đơn thi vào trường đại học Y khoa, vì “thấy bác sĩ cũng nhiều người có lòng cứu mình khỏi chết trong khi mình nghèo quá”.
Ðể có thể vào được Y khoa, trong khi ba từng là trung tá trưởng phòng chỉnh huấn Biệt khu Thủ đô, hiện vẫn còn trong trại cải tạo, đòi hỏi người thí sinh đó phải có số điểm gần như tuyệt đối. Vậy mà Nguyễn Trần Hoàng đã làm được, bằng chính sức học của mình.
Ba năm sau khi trở thành bác sĩ ở Việt Nam, năm 1991, anh Nguyễn Trần Hoàng cùng ba má và các em sang Mỹ định cư, sau Dược Sĩ Ðoàn Trang Anh một năm, và trước kỹ sư điện toán Lê Công Quý hai năm.

Làm lại cuộc đời trên đất tự do

Sang Mỹ khi đã ngoài 30 tuổi, Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng bắt đầu lao vào mưu sinh kiếm sống bằng công việc... đứng phụ “chợ trời”.
Anh kể bằng giọng từ tốn, “Mình không quen biết ai hết, nên cứ 3, 4 giờ sáng là ra chỗ chợ trời Cypress ở Costa Mesa đứng chờ xem có ai kêu mình phụ gì không. Chắc tại mình nhỏ con nên thường chẳng ai gọi phụ. Ðứng đến 7, 8 giờ không thấy ai gọi hết thì về.”
Rồi anh lại chuyển sang “đi bỏ cơm chay,” “đi bỏ báo”.
“Có lúc tôi xin đi làm công việc lau chùi, quét dọn cầu tiêu nữa. Vậy mà lúc phỏng vấn người ta cũng không thèm nhận. Có thể nói đó là lúc nản nhất trong cuộc đời tôi. Chán nản, và có lúc như bị trầm cảm nữa.” Người bác sĩ ngồi trong phòng mạch hiện tại của mình trên đường Lilac, kể về những ngày đầu tới Mỹ.
Sau, anh lại chuyển sang “nghề dạy lái xe”. Anh cười hóm hỉnh, “Hồi đó qua đâu có tiền học, nên tự tập lái rồi tự đi thi. Thi tới sáu lần mới đậu, nên rớt kiểu gì tôi cũng rành hết.”
Như đã nói lúc đầu, Nguyễn Trần Hoàng “có duyên với số cực”. Sang Mỹ chưa bao lâu. ba anh lâm bệnh, “từ cao huyết áp khi còn ở Việt Nam, qua đây chuyển sang suy thận giai đoạn cuối. Rồi từ thận lại sang tim, rồi biến chứng tùm lum hết”.
“Khoảng 3 năm sau khi đến Mỹ, ba tôi qua đời. Còn tôi thì tương lai vẫn mờ mịt, chẳng biết tới đâu, về đâu.” Anh kể.
Từ lúc qua Mỹ, cho tới lúc anh thi đậu lại bằng bác sĩ và có số điểm đủ cao để có thể xin một chỗ đi thực tập tại bệnh viện, mất tổng cộng 8 năm, “8 năm đó, tôi chỉ biết ngủ ở phòng khách, trên ghế salon cho đỡ tốn tiền. Những năm sau, tôi đi làm ít lại, mượn thêm ít tiền của đứa em đủ để trang trải tiền ăn ở, còn dành thời gian dốc sức vào chuyện học.”
Dược Sĩ Ðoàn Trang Anh thì may mắn hơn trong chuyện học hành khi sang miền đất này, như thể một sự đền bù cho những năm tháng chị không biết gì là “trường đại học ở Việt Nam”.
Chị nói, “Sau 7, 8 năm bị gián đoạn ở Việt Nam, không được học hành là tôi thấy bứt rứt lắm rồi. Cho nên khi được sang đây, trong đầu mình nghĩ là mình phải học, học nghề mà mình mơ ước hồi nhỏ, học để thành dược sĩ.”
Trang Anh học bằng tất cả sự say mê của mình, có chồng, có con vẫn còn tiếp tục học.
“Năm 1996, tôi lấy bằng cử nhân ngành Biopsychology của trường Ðại Học Long Beach . Ra trường, tôi đi làm ngay, suốt 8, 9 năm. Trong thời gian đó, tôi tiếp tục theo học để lấy bằng master. Ðến năm 2004, tôi quyết định 'quit job,' theo học chương trình Dược Sĩ tại trường Western Pomona. Ðến năm 2008, tôi chính thức trở thành dược sĩ.”
Ðó là hành trình đeo đuổi để đạt được ước mơ mà Trang Anh đã không thể thực hiện được khi ở Việt Nam.
Dù là ước mơ đó chị phải kiên trì mất gần 20 năm mới đạt được, nhưng Trang Anh luôn cảm thấy rất vui, rất thích nơi đã cho chị những cơ hội mà chị không thể nào tìm được ở quê nhà, chỉ bởi vì chị là “con ngụy”.
Với Lê Công Quý, cuộc đời anh thật sự như sang một trang mới khi đặt chân đến miền đất của tự do.
“Mình đang ở chỗ khổ quá mà, hết thảy mấy anh em tôi đều đi làm cực khổ, đi học cực khổ. Giờ sang đây nào là được 'tiền ông Bush cho,' nào là tiền foodstamp, ăn không có hết. Cứ thấy mình như ở thiên đường, thấy thật sự trân trọng những thứ mình có.” Anh Quý kể lại bằng giọng sôi nổi.
Cũng như những người tị nạn khác, anh Quý phải đi làm thêm bên cạnh thời gian đi học. “Cũng xin đi làm lau chùi, quét dọn restroom, đi đổ rác, đi bỏ báo, sau thì đi làm ở cây xăng. Nhưng ở quê cực quá rồi nên những chuyện đó anh em tôi không xem là cực nữa.” Anh cho biết.
Rồi anh trầm giọng, “Chuyện tôi bị đuổi về khi lên trường đại học nó nằm trong lòng tôi dễ sợ lắm. Sau này khi họ cho tôi đi học cao đẳng. Ði dạy một thời gian, tôi xin đi học tại chức họ cũng không cho. Hình như chính vì vậy mà chuyện phải học đại học nó cứ thôi thúc tôi suốt. Nên khi sang đây, không chờ phải đủ một năm để xin tiền financial aid, mà tôi đi học liền, học ào ào luôn.”
Nói là “học ào ào,” nhưng “một chữ tiếng Anh bẻ đôi cũng không biết,” nên người ta học 15, 20 phút, anh Quý phải học 1 tiếng, 2 tiếng. “Ðau khổ nhất là mấy lớp ESL, vừa học vừa khóc, nhưng rồi cuối cùng cũng qua. Sau hai năm ở college, tôi được nhận vào trường UC Davis.”
Kỹ sư điện toán Lê Công Quý. (Hình: Quý Lê)
Từ năm thứ 3, Lê Công Quý đã xin vào làm thực tập tại hãng máy tính IBM. “Khi đó, họ 'offer' cho mình một giờ $20. Trời ơi, lúc đó mới thấy thiên đường là đây, thấy rõ cuộc đời mình đã thực sự đổi qua trang mới rồi.” Anh cười sảng khoái khi nhớ lại mức lương đầu tiên mình có bằng chính sức học của mình.
“Khi đã cầm được bằng đại học trong tay rồi, anh cảm thấy như thế nào?” Nghe tôi hỏi, anh nói khi đã thôi cười, “Cảm thấy chuyện học đại học không là gì hết. Nhưng ở thời điểm đó, lứa tuổi đó, chuyện vào đại học đối với mình lớn lao quá, thành ra nó thành một ám ảnh với mình. Và mình học, để chứng minh cho một điều tự bên trong là mình có thể học được, mình không dở. Tôi từng hứa lấy được bằng đại học rồi có đi rửa chén cũng vui lòng mà. Ðôi khi tôi tự cười mình. Nhưng thực sự tôi tự hào về điều đó, nhờ đó mà tôi có sức lực để mà học.”

Tự hào về Ba

Có một điều, “vì là con sĩ quan” nên Dược Sĩ Ðoàn Trang Anh, Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng và kỹ sư Lê Công Quý “mới trải qua” nhiều điều mà không phải ai cũng phải chịu. Tuy nhiên, không ai trong số họ, vào thời điểm phải chịu những thiệt thòi bất công nhất, mảy may có trong đầu suy nghĩ “giận ba mình đã mang đến cho mình những bất hạnh này”.
“Không có ba tôi, làm sao tụi tôi qua được tới bên này để có được ngày hôm nay?” Anh Quý nhận xét.
Nhìn lại tất cả những gì mà mình đã làm được, Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng nói giản dị, “Ðó là nhờ ba tôi đã rèn luyện tôi từ nhỏ. Ba tôi là tấm gương lớn nhất của tôi.”
“Chưa bao giờ tôi cảm thấy oán trách vì ba tôi là sĩ quan nên tôi không được đi học đại học. Tôi chỉ có tự hào, rất tự hào về ba tôi. Trong tôi, hình ảnh ba lúc nào cũng oai hùng lắm!” Chị Trang Anh bày tỏ.
Như đã nói, cả ba người, Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng, kỹ sư Lê Công Quý, Dược Sĩ Ðoàn Quế Anh, không là những người thật đặc biệt, thật nổi tiếng. Nhưng họ đại diện cho số đông, số đông những người con của các sĩ quan VNCH, từng một thời phải chịu những kỳ thị, bất công, khi còn ở quê nhà.
Nhưng giờ đây, họ có quyền hãnh diện về mình lắm chứ. Và chúng ta cũng có quyền hãnh diện về họ.
*****
Liên lạc tác giả: ngoclan@nguoi-viet.com

Thứ Sáu, 6 tháng 7, 2018

Kỷ niệm

Bố mất, cậu mới biết ông bố có cả trăm cuốn sách, cậu không biết làm gì với số sách mà cậu không bao giờ đọc.  Chợt nhớ cái thư viện gần nhà, cậu gọi cho hết. Cậu thở dài thoải mái, đã làm một công việc hữu ích cho xã hội và cho chính mình.  Chỉ giữ lại chiếc xe và vài vật dụng điện tử mà cậu nghĩ có thể lên Ebay bán đi.  Ý nghĩ giữ kỷ vật của cha mình không hề bay qua đầu cậu. 

Bố ốm vào bệnh viện, ngươì con gái lôi hết quần áo của ông soạn ra đem vất, tất cả đồ vật của ông được cho đi, chỉ giữ lại những tấm hình.  Như thể ông sẽ không bao giờ trở lại căn phòng cũ, nơi ông đã hàng ngày ngồi nhìn ra cửa sổ nhớ tới người vợ đã ra đi hằng chục năm trước, hàng nắng rọi qua khe cửa sẽ không còn soi bóng ông.   Ông đã thật sự ra đi không trở lại, cái ngày những bài thơ viết nháp, ép trong trang sách của ông bắt đầu bước chân lưu lạc.  

Mắt cô lúc nào cũng ươn ướt đỏ mỗi khi cô ghé thăm bố,  cô muốn làm gì cho bố nhưng không làm được, cô nói cô ân hận và cô giận cô, giận người. Cô đi tới đi lui, than thở, người ta bảo cô quá xúc cảm, ngày bố mất cô lại không có mặt, cô bước vào nhà chào mọi người với nụ cười tươi.  Cô cảm thấy hài lòng cả bố lẫn cô đã không còn duyên nghiệp với nhau, với đời?

Tiếng chuông

Vợ chồng Giang có thói quen không biết từ bao giờ, có lẽ cũng hơn hai chục năm, một thói quen mà nàng thường nói đùa với mấy cô em đó là thời gian "quality time together", nghĩa là thức dậy sáng thứ Bảy, dù trời ảm đạm hay nắng, trừ trời mưa.  Vợ chồng nàng theo nhau xuống phố, phố ở đây không phải là shopping mall, đến một quán café hay xếp hàng trước một quán điểm tâm như thiên hạ mà Giang thường thấy trên đường Main, mỗi sáng cuối tuần.  Cái quán quảng cáo trứng với bánh mì không hiểu có gì đặc biệt, nhưng thiên hạ mấy chục năm nay vẫn xếp hàng vào ăn, và vợ chồng nàng không bao giờ có đủ kiên nhẫn để xếp hàng cho một món trứng cho nên năm này sang năm khác, từ thứ Bảy này đến thứ Bảy tuần sau vẫn tiếp tục (nhịn đói) nối gót nhau vào chợ Trời.  Bước xuống xe, là người đi trước kẻ đi sau cứ thế mà thong dong hít thở không khí buổi sáng thứ Bảy, làm như không khí ngày cuối tuần (ở chợ Trời) mát mẻ hơn vậy.  Chợ Trời nơi thành phố Giang ở, nằm trong sân đậu xe của một trường đại học cộng đồng, cứ cuối tuần, trường cho dân mướn để bán buôn, vì thế mà trường có thêm ngân sách để tu bổ trường lớp. 

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016

Thăm Thú Berlin

Theo blog Hiệu Mimh

Gordon Thuy

Berlin. Ảnh: Internet
Berlin. Ảnh: Internet
Chúng tôi học chung với nhau cùng một mái trường toàn nữ sinh suốt 7 năm, từ lớp 6 đến lớp 12. Thời ấy không tách trường cấp 2 và cấp 3 như bây giờ.  Lên đến cấp 3, ngày xưa gọi là trung học đệ nhị cấp, thì chọn ban chuyên môn như ban A (Sinh vật), ban B (Toán-Lý-Hóa), hay ban C (Văn chương – Sinh ngữ – Triết), tuy khác lớp nhưng vẫn ở cùng hành lang với nhau.
Cả bọn ra trường đầu thập niên 1970, rồi tứ tán mỗi kẻ một nơi. Một vài bạn đi du học, số khác theo học các đại học Sài gòn hoặc theo chồng bỏ cuộc chơi.
Năm 1975 lại tan đàn xẻ nghé lần nữa, một số di tản với gia đình trước ngày 30 tháng tư, một số vượt biên sau đó, phần đông may mắn đến được bến bờ mới, có một người gặp số phần hẩm hiu vùi thân dưới lòng biển sâu. Số còn lại lăn mình vào cuộc đổi đời, tìm một chỗ đứng cho mình. Từng bóng hình cũ của tuổi học trò nhạt nhòa dần trong trí nhớ. Từng khuôn mặt mới xuất hiện dìu dắt, chia xẻ, gắn bó trong cuộc đời trưởng thành.

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2016

Ảnh đẹp

Ai thich xem hình phong cảnh các nơi trên thế giới và có facebook, vào đây xem hình rất đẹp của Vidám Olasz

Album 180 Toscana: http://www.facebook.com/media/set/…
Album 231 Venezia http://www.facebook.com/media/set/…
Album 207 Roma http://www.facebook.com/media/set/…
Album 190 Firenze http://www.facebook.com/media/set/…
Album 224: Budapest http://www.facebook.com/media/set/…...

Xem toàn bộ  https://www.facebook.com/olasz.nyelv/posts/896724133758867

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2016

Tác giả bài thơ gây bão mạng xã hội 'không bị kỷ luật'

HÀ TĨNH (NV) - Một số tờ báo tại Việt Nam loan tin cô giáo tác giả bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh” gây rúng động trên mạng xã hội không bị “bất kỳ hình thức kỷ luật nào.”
Bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh” của cô giáo Trần Thị Lam trên Facebook của cô, nay đã bị gỡ xuống. (Hình: Facebook Trần Thị Lam)
Bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh” của cô giáo Trần Thị Lam xuất hiện trên trang Facebook của cô từ ngày Thứ Hai, 25 Tháng Tư, và khoảng một ngày sau thì có hơn 2,000 lượt người chia sẻ. Tuy nhiên, nếu tìm kiếm trên mạng google ngày 29 Tháng Tư, với tên bài thơ vừa kể thì người ta thấy đã có tới 440,000 kết quả. Còn nếu tìm kiếm nhóm từ “cô giáo Trần Thị Lam” thấy có tới 1.5 triệu kết quả. Điều này chứng tỏ tâm sự của cô giáo Lam qua bài thơ đã và còn đang tác động mạnh mẽ vào lòng người.

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2016

Ngọn gió Đông Phương vừa thổi lại Phương Đông (Tiếc thương và kính tiễn Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích)

Trần Trung Đạo


Ba giờ sáng ngày 3 tháng 3, 2016 tôi nhận được tin nhắn của một người thân “Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích mất trên máy bay”. Dù chưa kiểm chứng và còn quá sớm để gọi những người quen nhưng tôi nghĩ đó là tin đúng. Tôi biết giáo sư cùng nhiều vị khác đang trên đường tham dự Họp Mặt Dân Chủ 2016 tổ chức ở Manila. Năm ngoái cũng tổ chức ở Manila, lý do để có một không gian và các thành phần tham dự thích hợp, nhất là từ phía Philippines, khi thảo luận về tranh chấp Biển Đông.
Sáng nay đọc tin chi tiết trên báo Người Việt trích dẫn lời của Tiến sĩ Đào Thị Hợi, phu nhân của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích cho biết lúc 9 giờ tối 2 tháng 3, 2016 (giờ miền Đông Hoa Kỳ) ông “vào phòng vệ sinh trên máy bay, khi về lại chỗ ngồi thì lên cơn mệt và mất ngay tại ghế ngồi.”
Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích sinh năm 1937 tại Hà Nội. Ông học tiểu học ở Vĩnh Yên, trung học ở Chasseloup Laubat, Sài Gòn. Năm 1955, ông được học bổng Fulbright tại đại học Princeton và tốt nghiệp Cử Nhân Chính Trị Học năm 1958. Sau đó ông đã theo học các chương trình cao hơn tại nhiều trường đại học nổi tiếng của Mỹ như Columbia University và Georgetown University. Ông sang Đại Học Kyoto, một trong bảy trường đại học quốc gia của Nhật Bản, từ 1962 đến 1963 để sưu tập tài liệu làm luận án Tiến sĩ về Giáo Dục.

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2015

Phố Hàn, Phố Việt

Thỉnh thoảng tôi thích đi dạo một vòng những khu buôn bán của người Đại Hàn (nay gọi là Hàn Quốc) và của người Việt ở Sydney. Qua nhiều lần như thế, tôi đi đến một nhận xét là người Việt mình ăn ở dơ bẩn và kém văn minh hơn người Hàn. Tôi biết nói ra nhận xét này làm nhiều người tức giận, nhưng tôi quen nói ra suy nghĩ của mình.

Ở Sydney, những trung tâm buôn bán tiêu biểu của người Đại Hàn là Burwood và Strathfield. Tôi có một anh bạn làm hiệu trưởng một đại học ở VN, mỗi lần sang đây, đều kéo tôi đến Strathfield để nhâm nhi thức ăn Hàn Quốc và ... nhìn. Nhìn người qua lại. Nhìn phong cách phục vụ của các nhà hàng Hàn. Nhìn khách Hàn ăn uống và thì thầm trong nhà hàng. Ấn tượng đầu tiên của tôi khi đến hai khu này là sự sạch sẽ. Đường xá hầu như không có rác. Xe cộ đậu rất thứ tự (và họ thích lái xe Hiện Đại của Hàn Quốc). Họ ăn mặc đàng hoàng và tươm tất. Cho dù các cô gái mặc đồ casual nhưng cũng tiềm ẩn tính sang trọng của người có văn hoá. Nói chung, đó là những chỗ chẳng khác gì những khu buôn bán trung lưu của người Úc.

Tiếp viên Vietnam Airlines (VNA) : Chả bao giờ thấy nàng cười

Nhân một bạn nhận xét về tiếp viên VNA, tôi muốn chia sẻ cùng các bạn vài cảm nhận cá nhân. Chuyện tiếp viên VNA thì nói hoài không hết. Tôi đã nói nhiều lần và có thể đóng gói thành một quyển sách nhỏ. VNA có cải tiến trong thời gian gần đây, nhưng nói chung là hơi chậm. Nếu chỉ nói những điểm chưa tốt của các nàng và chàng VNA, tôi có thể nhận ra những điểm sau đây:

1. Kém chuyên môn: họ không biết chữ "service" có nghĩa là gì, nên rất ít khi nào giúp đỡ hành khách đang lúc khó khăn. Thậm chí có nhiều lúc họ tỏ ra mất lịch sự và có khi hống hách với khách. Rất nhiều lần tôi thấy nhiều khách tay bồng bế con và vali, nhưng họ đứng đó mà chẳng giúp gì, làm tôi nóng ruột phải tình nguyện giúp khách. 

2. Kém kiến thức: nghề tiếp viên đòi hỏi kiến thức văn hoá, ẩm thực, và một chút "worldly", nhưng tiếp viên VNA rất kém về mấy mảng này. Họ thậm chí không biết món nào đi với món nào! Thật ra, tôi thông cảm cho tiếp viên người Việt vì phụ nữ VN nói chung không biết rượu hay ăn uống hạng up-market, nên khó nói chuyện gì với họ. 

Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2015

NGƯỜI UYGHUR VÀ NGƯỜI VIỆT CÓ CHUNG ĐIỀU GÌ?

(NCTG) “Người Uyghur sống chết với thảo nguyên nơi linh hồn bay trên ngọn bạch dương và râu tóc lẫn trong cát mịn. Năm 2015, người Việt sống chết với điều chi?”.

Đông Turkestan, vùng đất bí hiểm và đầy đau thương
Đông Turkestan, vùng đất bí hiểm và đầy đau thương
Thành phố Ürümqi (Ô Lỗ Mộc Tề, ئۈرۈمچی), thủ phủ vùng Tân Cương nằm dựa rặng Thiên San. Người Việt biết Ürümqi qua tiễn khúc “Hòn Vọng Phu” của Lê Thương: “Qua Thiên San kìa ai tiễn rượu vừa tàn. Vui ca lên rồi đi tiễn binh ngoài ngàn…”.

Cư dân Ürümqi là ai?

Địa bàn Turkestan gồm hàng ngàn bộ lạc da trắng trải từ Nam Siberia, Tây Mãn Châu, Nội Mông, Tân Cương (Uyghurstan/Đông Turkistan) đến Cam Túc. Miền đất chứng kiến hai tộc da vàng/da trắng hợp chủng, cũng là nơi tiếp nhận nhiều nền văn minh rạng rỡ nhất của nhân loại, La Mã, Hy Lạp, Ba Tư, Trung Hoa

Uyghur (Duy Ngô Nhĩ) là nhóm da trắng đi xa nhất về phía Đông, cao lớn, tóc dợn sóng đỏ hay vàng nhạt.

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2015

“Ta mất người như người đã mất tên”

Nhân thấy một vài bạn bàn rôm rả về việc dùng chữ “Sài Gòn” cho TPHCM, tôi nhớ đến hai người thi sĩ lừng danh có những sáng tác liên quan đến việc thay tên đổi họ thành phố: Vũ Hoàng Chương và Nguyễn Đình Toàn. Một người sáng tác câu "Đồng khởi vùng lên mất Tự do", một người sáng tác bài "Sài Gòn niềm nhớ không tên". Cái note này có thể xem như là một bổ sung cho cuộc bàn thảo đó, vì tôi nghĩ có vài thông tin mới đối với một số bạn.


Sau 1975, chúng ta biết rằng Sài Gòn bị đổi tên thành “Thành phố Hồ Chí Minh”. Hình như kiểu đổi tên này là một trào lưu xuất phát hay bắt chước từ Liên Xô, nơi mà những người cộng sản đổi tên thành phố danh tiếng St Petersburg thành Leningrad, và kinh dị hơn là đổi tên thành phố Tsaritsyn thành tên đồ tể Stalingrad. Kể ra thì cũng đáng tiếc, vì cái tên "Sài Gòn" đã ăn sâu vào tiềm thức của người miền Nam, vậy mà đùng một cái nó bị đổi thành tên của ông cụ. Tôi không biết nếu còn sống, ông Hồ có thích như thế không.

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

Tôi thấy hoang tàn trên tuổi xanh


0e471523_people-shadow-banner
Đó là một buổi chiểu của năm 1987. Một buổi chiều mà tôi cứ hay bị ký ức lôi về căn phòng tối thăm thẳm không lời đáp.
Đó là năm thứ 2 trung cấp, tôi đang theo học ở Nhạc Viện TP. Buổi chiều với giờ học Trích giảng Âm nhạc của thầy Trương Hữu Lang. Cả lớp bỗng sững lại. Gương mặt ông thấy cũng bối rối khi bà bí thư Đảng Uỷ Nguyệt Anh dẫn theo một công an viên đến lạnh lùng gọi tên một người bạn của tôi bước ra khỏi lớp. Anh Trịnh Bằng Phi, học contrabass, luống cuống nghe thông báo rồi quay lại bàn gom sách vở ra về. Từ đó về sau, tôi không bao giờ gặp lại anh được nữa. Anh Phi bị đuổi học bất ngờ vì người ta tìm thấy ba anh là một sĩ quan của chế độ VNCH. Khi ấy anh chưa được 25 tuổi, nhưng đã là một trong những tay chơi contrabass hiếm hoi đủ thể chất và trình độ của miền Nam, thế nhưng anh bị xô ngã một tương lai, vì lý lịch.

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

Nhà văn Võ Phiến qua đời

Nguyễn Văn Tuấn

Nhà văn Võ Phiến (20/10/1925 - 28/9/2015). Ảnh của Người Việt.
Mới đọc báo Người Việt mới biết tin Nhà văn Võ Phiến đã qua đời ở California, ngày hôm nay, thọ 90 tuổi (1). Có lẽ nhiều bạn trẻ không/chưa biết đến ông, nhưng ông là một trong những tác giả quan trọng nhất của văn học Việt Nam. Ông tên thật là Đoàn Thế Nhơn, người gốc Phù Mỹ, Bình Định (quê ngoại tôi), từng tham gia kháng chiến chống Pháp, nhưng sau này ông bỏ về thành. Sau 1975, ông di tản qua Mĩ, và có công gầy dựng trào lưu văn học Việt ở hải ngoại.
Ông nhạc phụ tôi là người cùng thời với Võ Phiến và từng có thời công tác chung trong Việt Minh. Lúc sinh thời, ông nhạc tôi kể hoài về văn tài của Võ Phiến, một người nói không nhiều, có vẻ "sớ rớ", mà viết văn cực hay. Ông nói rằng lúc Võ Phiến bỏ VM về thành vì một bất đồng chính sách văn nghệ, những người VM tiếc hùi hụi vì mất một văn tài. Nhưng Võ Phiến thì không hề tiếc khi ông bỏ hàng ngũ VM, và sau này trở thành một người có những tác phẩm có thể nói là làm cho người cộng sản không hài lòng (nói lịch sự là thế).

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

Câu nói của một người "thầy"

GN: Không muốn đưa mấy cái chuyện chính trị vào blog này nhưng mà đọc bài báo sau không khỏi ngạc nhiên, thời buổi này mà có một ông thày "thành thực" tới mức người đọc không hiểu ông thày có nên được gọi là thày.  Có lẽ sinh viên VN từ nay nên hiểu rõ khi trường có đoàn, có đảng bộ, có bí thư thì có nghĩa là trường do những người cộng sản lập ra và sinh viên nào không cùng lý tưởng thì nguy cơ bị đuổi học hay bị đì rất là cao.  Và xin nhớ, lý tưởng Cộng Sản tương khắc với lý tưởng Dân Chủ.  Cho nên nếu có nghe xã hội VN mà dân chủ gấp ngàn lần thì chỉ là bịa. Vì chính ông thầy ở một trường đại học đã phát biểu thì không thể sai, đúng không ạ? 
Chả trách ngày nay sinh viên học sinh ùn ùn bỏ ra nước ngoài học và chẳng muốn quay về xây dựng đất nước chỉ vì điều gì, thì cứ đọc câu nói của ông thày trong bản tin sau là biết lý do tại sao.
 

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2015

Người Việt và thói ăn cắp

Báo chí mới rộ lên một tin làm nhiều người Việt buồn rầu và tức giận. Đó là bản tin hai người du khách từ VN bị cảnh sát Thuỵ Sĩ bắt vì tội ăn cắp trong một tiệm bán hàng đắt tiền (1). Dĩ nhiên, đây không phải là trường hợp cá biệt, vì đã xảy ra nhiều vụ như thế trong quá khứ. Nhưng nhục nhã nhất có lẽ là vụ Nhật in poster chống ăn cắp nhưng với hình cờ đỏ sao vàng vẽ theo dạng những giọt máu tươi, kèm theo dòng chữ "lao động là vinh quang" (2).


Poster phòng chống trộm cắp ở Nhật nhắm thẳng vào người Việt 

Ngoài vụ ăn cắp, báo chí còn làm ồn ào một vụ nhục nhã chẳng kém là một số hành khách nữ bị chận lại ở phi trường Singapore, không cho nhập cảnh (3), vì họ bị nghi ngờ là sang đó làm điếm (4-5).

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2015

Một số từ Anh- Việt đối chiếu

GN: Không cò gì bực bội khi đến một vùng được cho là thủ phủ của người Việt tỵ nạn, nghe được đài phát thanh tiếng Việt rồi không hiểu họ nói gì.  Nhất là nghe những người đại diện cho tầng lớp trí thức như luật sư, bác sĩ mà nói ngọng tiếng Việt, thà rằng họ nói tiếng Anh hẳn, chứ nói tiếng Việt "ba rọi" cỡ như tôi, tiếng Anh không rành tiếng Việt thì nhớ nhớ quên quên, nên đi đâu không dám mở miệng.  Một lần nghe buỗi nói chuyện của một luật sư diễn giải những câu chuyện kiện tụng, tôi cứ thắc mắc sao ông ta cứ nói cái "cây" nào đó trong câu chuyện của ông ta, nghe một hồi mới biết là ông ta nói "cái case".  Ôi ông ơi, case thì nói có âm "s", ông không nói, ông cứ nhè "cây", mà còn cho mạo từ "cái" trước chữ "case" thật là khổ sở cho người nghe.  Chả đâu vào đâu cả, không hiểu mấy ông bà làm công việc truyền thông (có ý nghĩa là hướng dẫn thính giả) có bao giờ nghe lại lời họ nói không nhỉ, tiếng Anh tiếng U phát âm sai trật lại không chịu tìm hiểu tiếng Việt nói cho rõ, cứ nói ngọng chen vào nhau, dân đen như tôi nói không ai chú ý còn đỡ, họ là "trí thức" mà ăn nói kiểu đó cứ như là hề vậy đó.
Xin được post lại đây để bản thân không trở thành hề với chính ngôn ngữ tiếng Việt.

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2015

Hình ảnh nghệ sĩ Văn Cao

Xem cái clip sau về đời sống các văn nghệ sĩ một thời của miền Bắc, họ đã bị trù dập khốn khổ ra sao. Cả một thế hệ tinh hoa đã ra đi dần, những thế hệ sau này nều không tìm hiểu đọc thì không thể hiểu được chế độ họ đang sống đã từng trù dập biết bao nhiêu con người nếu chi nhìn thấy những hào nhóang của xã hội hiện tại. Dĩ nhiên ở đâu chế độ nào cũng có những mặt trái, khoảng tối, nhưng đa số các xã hội văn minh, con người được bảo vệ bởi luật pháp, và chế độ cũng thay đổi từng kỳ, chỉ duy VN thì như một đế chế, một triều đại kéo dài mấy thế hệ, không thay đổi. Người ta già người ta cũng ra đi, nhưng chế độ kéo dài mãi khiến phải rùng mình.


 

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2015

Cha mẹ và con

GN: Ngồi clean computer thấy có lá thư cũ, đọc thấy cũng cần học lại để dậy cháu :-)

Các em,

Chị viết thư chung này cho tất cả vì gần đây có câu hỏi về kinh nghiệm của chị về cách dậy con ra sao. Một điều trước tiên chị muốn nói là chị không phải là hoàn toàn và tất cả chúng ta cũng như đa số ông bà cha mẹ chúng ta đã không được ai dậy "làm thế nào làm cha mẹ" Chúng ta thừa hưởng cung cách làm cha mẹ một cách tự nhiên từ do cha mẹ chúng ta và họ cũng thế.  Điều hay dở cứ thế tiếp tục truyền lại hoặc do xã hội đào tạo.  Nhưng may mắn cho chị khi đặt chân đến Mỹ chị đã được đọc một cuốn sách  nhỏ có tựa đề là “How to be parent” (Làm thế nào làm cha mẹ), từ đó chị học hỏi được đôi điều để áp dụng trong đời sống với con cái. 

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

Thì sông cứ chảy, phận người cứ trôi

Nhạc sĩ Tuấn Khanh
Theo blog Nhạc sĩ Tuấn Khanh

 

Trong ngày 1/6 vừa qua, có một bản video ngắn với chủ đề về trẻ em miển Tây Việt Nam được âm thầm đưa lên các trang mạng. Bản video chỉ có 4 phút nhưng đã nhanh chóng tạo nên một niềm xúc động khó tả cho nhiều người. Chỉ trong vài ngày “Thì sông cứ chảy” – tên của video này – thu hút một lượng lớn khán giả vào xem. Bản upload chỉ riêng một trang trên facebook đã leo đến gần con số một triệu người vào theo dõi.
Phim rất ngắn, và chỉ có những hình ảnh mô tả lướt qua đời sống của những gia đình nghèo, sống trên sông nước tại Long Xuyên – hay với cái nhìn rộng hơn ngụ ý, là dành cho cả miền Tây đất Việt giàu có, sảng khoái nhưng phải đội nghịch cảnh và nghèo nàn. Xem video, người ta có thể cảm nhận rằng những người thực hiện có thể đã bỏ ra không ít hơn 4 tháng để suy nghĩ và thực hiện hoàn tất 4 phút phim này. Được biết người viết kịch bản là Mai Huyền Chi, và quay phim là Tạ Nguyên Hiệp, những người có tay nghề thật chắc và tâm huyết thật đáng trân trọng. Hãng phim sản xuất và phát hành cũng rất quen thuộc: công ty Chánh Phương.

Chủ đề

Góp Nhặt

Blog Anh

Lưu trữ Blog